banner

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

Đọc tài liệu lịch sử


Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975
Tác giả: Điệp Mỹ Linh

Bình luận: Trần Bình Nam (*)
 
Thông thường, một tác phẩm vừa ra đời hoặc một nhà văn còn mới mẻ trong giới cầm bút thì mới cần đến sự giới thiệu của một ngòi bút đàn anh hoặc đàn chị. Nhưng trường hợp của Điệp Mỹ Linh thì khác. Điệp Mỹ Linh cầm bút từ năm 1961, theo Writers Post, và đã trình làng chín tác phẩm gồm truyện ngắn, truyện dài và tài liệu lịch sử.
Cuốn tài liệu lịch sử Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa Ra Khơi, 1975 đã được xuất bản từ năm 1990, bây giờ Điệp Mỹ Linh cho tái bản.
Tôi nghĩ, ít ai viết về một tác phẩm tái bản. Nhưng, khi đọc bản gốc cuốn tài liệu Hải Quân để góp ý với Điệp Mỹ Linh trước khi tái bản, tôi nhận thấy tôi nên viết ra những nhận xét của tôi về tác phầm này.
Chuyên theo dõi thời cuộc và những biến chuyển chính trị trên thế giới, tôi nhận thấy, một số quyết định quân sự sai lầm của chính phủ miền Nam Việt Nam đã kéo theo không biết bao nhiêu cuộc rút quân đẩm máu.
Những cuộc rút quân bằng đường bộ đã được nhiều người viết lại. Nhưng những cuộc rút quân bằng đường thủy thì chỉ có cuốn tài liệu Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 của Điệp Mỹ Linh mới ghi lại đầy đủ, trung thực và tỉ mỉ. Điệp Mỹ Linh đã chịu khó tra cứu, tìm tòi và phỏng vấn hầu hết quý vị Hạm Trưởng và những nhân vật liên hệ.
Cuốn tài liệu được chia ra từng chương rõ ràng, mạch lạc, ghi từng ngày, giờ khi sự kiện xảy ra. Mỗi chương và mỗi bài đều có huy hiệu hoặc ảnh của chiến hạm đã tham dự.
Phần Sơ Lược Lịch Sử Hải Quân V.N.C.H. và phần phỏng vấn những nhân vật liên hệ đến Chuyến Ra Khơi Cuối Cùng có những liên quan mật thiết và bổ túc cho những chương viết về các cuộc rút quân bằng đường thủy. Phần phụ lục cũng không kém quan trọng. Độc giả có thể biết số, tên và loại của từng chiến hạm và chiến đỉnh.
 
Tiêu đề của cuốn sách là “Tài liệu lịch sử”, nhưng khi đọc tôi không cảm thấy khô khan mà tôi như bị cuốn hút vào những bi hùng có thật.
Xin mời quý độc giả đọc ba đoạn trích dẫn sau đây:  
1.- Các cuộc rút quân bằng đường biển.
2.- Những đụng độ lớn tại hai vùng Sông Ngòi.
3.- Phỏng vấn những nhân vật có thẩm quyền trong các cuộc rút quân của Hải Quân VNCH.
Đọc xong 03 phần quan trong kể trên, quý độc giả sẽ có thể thẩm định giá trị của cuốn tài liệu này.**

Ghi chú:
*  Trần Bình Nam là bút hiệu của cựu Hải Quân trung tá kiêm cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH Trần Văn Sơn.
** Đàn Chim Việt, Thông Luận và Lướt Sóng.
Kính mời quý vị đọc ba phân đoạn mà Ông Trần Bình Nam trích dẫn từ cuốn tài liệu lịch sử Hải-Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 tại link này:
https://www.diepmylinh.com/hqvnch-ra-khoi



Nhà văn Điệp Mỹ Linh và

Tài liệu: Hải Quân VNCH Ra Khơi 1975

(Chương trình Tác Giả & Tác Phẩm của Mac USA Media Show)

Phạm Tương Như: Chào anh Huy Tâm, nguyên do gì chương trình của chúng ta hôm nay lại mở đầu bằng một ca khúc khá rộn ràng, vui tươi như vậy hở anh Huy Tâm?
Huy Tâm: Phải, đó là một nhạc phẩm rất nhí nhảnh, dễ thương của người lính hải quân Anh Thy. Và nguyên do là vì hôm nay chúng ta mời được nhà văn nữ Điệp Mỹ Linh, người đã có nhiều tác phẩm viết về quân chủng Hải Quân. Đặc biệt, trong chương trình này chúng ta sẽ cùng chị trao đổi về Bộ sách Tài liệu lịch sử: Hải Quân VNCH (Việt Nam Cộng Hòa) Ra Khơi 1975.

Phạm Tương Như: Và bây giờ thì người phụ nữ khả ái và tài ba của chúng ta đã có mặt trong phòng thâu âm.
Xin chào nhà văn Điệp Mỹ Linh, mời chị lên tiếng chào quý khán thính giả của chúng ta.
Điệp Mỹ Linh : Điệp Mỹ Linh xin trân trọng kính chào quý khán thính giả Chương trình Tác Giả & Tác Phẩm của Mac USA Media Show. Điệp Mỹ Linh cũng xin trân trọng kính chào nhà truyền thông Huy Tâm và nhà thơ khả ái Phạm Tương Như.

Huy Tâm: Xin hân hoan chào đón nhà văn Điệp Mỹ Linh đã góp mặt với chương trình Tác Giả & Tác Phẩm hôm nay. Cảm ơn chị, dù niên kỷ khá cao, cũng chẳng ngần ngại đường xá xa xôi, vẫn dành thời gian đến đây trò chuyện cùng anh em chúng tôi.
Điệp Mỹ Linh: Thưa anh, đúng ra, Điệp Mỹ Linh phải cảm ơn Chương trình Tác Giả & Tác Phẩm của Mac USA Media Show cùng Ban Biên Tập đã tạo điều kiện cho Điệp Mỹ Linh có cơ hội gặp gỡ và trao đổi với quý vị phụ trách chương trình Tác Giả & Tác Phẩm và cũng để trình bày cùng quý đồng hương khắp nơi về vài điều của ngòi bút không chuyên nghiệp này.

Phạm Tương Như: Thưa chị! Miếng trầu là đầu câu chuyện, ở đây chúng em chẳng có trầu để mời chị, mong chị bỏ qua. Và phần nghi thức xã giao đã xong, bây giờ mời chị nói qua về nhân thân, để quý khán giả dễ dàng theo dõi ạ...
Điệp Mỹ Linh: Kính thưa quý khán thính giả, kính thưa anh Huy Tâm và anh Phạm Tương Như, đối với tôi, nói về mình là một điều tôi rất ngại ngùng. Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng trung thực với những gì tôi có thể nhớ được.
Thưa quý vị, tôi chào đời tại Dalat. Khi tôi còn bé, Ba tôi theo kháng chiến chống Tây, đem vợ con theo. Ba tôi là Trưởng Ban Văn Nghệ Quân Giới Liên Khu V trong vùng Việt Minh chiếm đóng. Chỉ một thời gian sau, Ba tôi đưa gia đình trốn về Dalat.
Tôi học và ở nội trú trường Domaine de Marie, Dalat. Sau bậc tiểu học, gia đình tôi dời về Nha Trang, tôi theo học trường trung học Võ Tánh. Sau khi xong tú tài II, tôi học Luật tại đại học Luật Khoa Saigon và thành hôn với ông Hồ Quang Minh, sĩ quan khóa 8 Hải Quân Nha Trang.

Huy Tâm: Thưa chị! Theo tin tức mà chúng tôi thu thập được, thì thời học trung học, chị cũng đã từng là một nghệ sĩ trong ban nhạc ở đài phát thanh Nha Trang, chị vui lòng nói rõ thêm về giai đoạn này, hầu tìm lại chút dư hương ngày tháng cũ...
Điệp Mỹ Linh: Vâng, kính thưa quý vị, giữa thập niên 50, một hôm gia đình tôi đi xem xi-nê tại rạp Tân Tân, Nha Trang – tôi không nhớ tựa cuốn phim – do Dean Martin và Jerry Liwis thủ vai chính. Thấy Dean Martin vừa đàn Accordéon vừa hát vừa nhún nhảy, tôi thích quá, “đòi” Ba tôi cho tôi học Accordéon.
Ba tôi đưa tôi vào Saigon, đến tiệm đàn Mỹ Tín, đường Hai Bà Trưng, đặt mua một Accordéon của Ý Đại Lợi – Ba tôi bảo Accordéon sản xuất tại Ý là tốt nhất – và đặt mua một cuốn sách dạy Accordéon từ Pháp vì Ba tôi chỉ biết tiếng Pháp. Thế là Ba tôi dạy tôi đàn.
Sau đó, Ba tôi thành lập Ban Ca Nhạc Bình Minh, phụ trách văn nghệ cho đài phát thanh Nha Trang vào mỗi tối thứ Năm và tối Chủ Nhật, hằng tuần.
Thời điểm này, Ba tôi là Trưởng Ban Kế Toán Khu Công Chánh Nha Trang. Kỹ sư Nguyễn Văn Thưởng, từ Pháp về, đảm nhận chức vụ Trưởng Khu Công Chánh miền Nam Trung Nguyên Trung Phần, rất thích chương trình của Ban Bình Minh trên đài phát thanh Nha Trang, cho nên, ông Thưởng cho xuất công quỹ mua nhạc cụ để Ba tôi thành lập – và trở thành Trưởng Ban – Ban Văn Nghệ Khu Công Chánh Nha Trang.
Tôi đàn Accordéon và hát trong ban Bình Minh trên đài phát thanh Nha Trang và trong Ban Văn Nghệ Khu Công Chánh Nha Trang vào những buổi văn nghệ trên sân khấu để gây quỹ ủy lạo nạn nhân chiến tranh hoặc nạn nhân thiên tai.

Phạm Tương Như: Như thế chị bắt đầu đi vào nghiệp dĩ văn chương từ lúc nào, và nguyên nhân từ đâu?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý vị, tôi quên thưa với quý vị rằng: Thời gian ở Nha Trang, Ba tôi cũng viết cho báo Đuốc Thiêng, Tin Sáng, Tia Sáng v.v... với bút hiệu Điệp Linh hoặc Điệp Mỹ Linh – do tên của chị em tôi ghép lại – và Nguyễn Văn Ngữ (tên thật của Ba tôi).
Về văn chương, tôi chỉ dám nhận là một ngòi bút “tài tử”. Về nhạc thì tôi đã... bỏ đàn từ sau khi lập gia đình vì ông Minh không thích tôi đàn!
Khi biết tôi đã bỏ đàn từ lâu, Ba tôi rất buồn! Nhưng rồi Ba tôi bảo: “Thôi, Minh không thích con đàn thì thôi, con đừng đàn để giữ hạnh phúc gia đình. Ba sẽ dạy con viết văn”. Thế là Ba tôi dạy tôi viết văn.
Những bài đầu tiên, tôi dùng tên em tôi, Nguyễn Thị Kiều Lam, Thanh Điệp, tên thật của tôi và Thủy Điện. Sau đó, tôi muốn “dựa hơi” Ba tôi, tôi xin Ba tôi cho tôi “mượn” bút hiệu Điệp Mỹ Linh của Ba tôi để làm bút hiệu của tôi. Ba tôi xỉa ngón tay trỏ vào trán tôi, cười, mắng yêu, “Cha mày!”

Huy Tâm : Thưa chị, như thế chị cũng là con “nhà nòi” rồi. Vậy có chút kỷ niệm buồn vui nào để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong tâm hồn chị trên hành trình mấy mươi năm cầm bút chăng?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý vị, kỷ niệm buồn nhất trong đời viết văn của tôi – đã được bộc lộ trong bài phỏng vấn trên nguyệt san Văn Học, do nhà văn Nguyễn Mộng Giác thực hiện từ thập niên 90 – là: Năm 1972, em ruột của ông Minh, thiếu úy Biệt Động Quân Hồ Quang Trung, tử trận tại Bình Long, quàn tại chùa Vĩnh Nghiêm, Saigon. Tôi thương chú Trung như thương Linh, em ruột của tôi, cho nên, tôi viết một bài, đăng trên Tin Sáng hay Tia Sáng? tôi không nhớ được, ký tên thật, Thanh Điệp! Tôi chỉ nhớ câu kết luận của bài viết ấy là: “Từ nay, chị sẽ tìm hình bóng em qua nhân dáng oai hùng của Người Lính Mũ Nâu!”
Vì biết ông Minh không thích tôi viết, cho nên, khi nhận được báo có bài tôi viết về chú Trung, tôi cắt ra, xếp nhỏ, chờ giờ trưa vắng người thăm viếng, tôi đem lên chùa Vĩnh Nghiêm, lén mọi người, để bài viết dưới lư hương, trên quan tài của chú Trung. Không ngờ, Hà – vợ của chú Trung – thấy hành động của tôi.
Khi tôi trở về nhà để lo cho các con tôi đi học, Hà lấy bài báo dưới lư hương ra đọc. Đọc xong, Hà buồn quá, cầm bài báo, đến cầu Công Lý với ý định trầm mình chết theo chú Trung! Người quanh cầu Công Lý thấy Hà mặc đồ tang, đang khóc ngất và tìm cách leo qua cầu Công Lý, vội đến khuyên ngăn và đưa Hà trở lại chùa Vĩnh Nghiêm. Ông Minh và gia đình cũng khuyên ngăn Hà. Hà vẫn khóc, trong tay cầm chặt bài viết của tôi. Không ai hiểu Hà đang cầm vật gì. Bà Nội các cháu vội gỡ mấy ngón tay của Hà, lấy ra bài báo. Thấy tác giả là Thanh Điệp, cả gia đình ông Minh đều nổi giận!
Khi tôi trở lại chùa Vĩnh Nghiêm, vừa bước lên mấy bậc cấp, ông Minh từ bên trong nhà quàn bước ra, xỉa ngón tay thẳng vào tôi – trước nhiều quan khách đến viếng đám tang của Trung và đám tang người khác – nạt lớn: “Ai biểu cô viết? Hả? Biểu "dẹp" hoài mà tại sao cứ viết! Viết để làm gì? May có người cứu, nếu không, vợ thằng Trung chết rồi, biết không?”
Tôi bàng hoàng, chỉ biết im lặng, khóc cho chú Trung và cũng khóc cho chính tôi!

Phạm Tương Như: Thế còn kỷ niệm vui là gì vậy, chị?
Điệp Mỹ Linh: Kỷ niệm vui là, năm 1999, khi tập truyện Tưởng Như Trở Về của tôi được xuất bản, trong đó, tôi trích vài câu thơ của bài Tiếng Đàn Đêm Trung Thu, tác giả là Hoàng Việt Sơn – bút hiệu của một bác sĩ Thủy Quân Lục Chiến – sáng tác năm 1956, để tặng Thanh Điệp, Thúy Minh, Hoàng Thu, sau khi ông Hoàng Việt Sơn tham dự đêm văn nghệ do ban Bình Minh trình diễn để ủy lạo binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến, tại căn cứ Sóng Thần, Nha Trang, do đại tá Nguyễn Bá Liên chỉ huy.
Không ngờ, sau khi đọc bài Tưởng Như Trở Về, vị bác sĩ kiêm nhà thơ Hoàng Việt Sơn nhận ra Điệp Mỹ Linh là Thanh Điệp rồi liên lạc với tôi. Tôi rất vui nhưng cũng rất ngại ngùng và dè dặt!
Sau đó vị bác sĩ này dùng bút hiệu Phụng Hồng để viết về Điệp Mỹ Linh và tác phẩm của Điệp Mỹ Linh. Tiếp đến, vị bác sĩ này dùng bút hiệu Hoàng Vũ Bão, sáng tác tập thơ Nửa Đời Thương Đau, do nhà xuất bản Hồn Việt của nhà báo Ngọc Hoài Phương xuất bản để tặng Điệp Mỹ Linh.
Dù rất kém chính tả tiếng Việt, tôi cũng nhận ra chữ “Bão” trong bút hiệu của vị bác sĩ này phải là dấu hỏi. Tôi góp ý, đề nghị Ông sửa lại thành dấu hỏi nhưng vị bác sĩ “ba gai” này xác định rằng: Ông muốn dùng dấu ngã như là bão tố để thể hiện tinh thần bất khuất của Thủy Quân Lục Chiến: Khi tấn công là phải chiếm cho được mục tiêu!

Huy Tâm : Cuối cùng vị bác sĩ ấy có “chiếm được mục tiêu hay không?”
Điệp Mỹ Linh: Dạ, thưa anh, không! Vì tôi rất thương thân phận phụ nữ! Không bao giờ tôi nỡ làm khổ một phụ nữ nào cả! Kính mời quý độc giả đọc tùy bút Tạ Lỗi Với Người Thơ, trong tập truyện Trăng Lạnh.
Link:https://www.diepmylinh.com/ta-loi-voi-nguoi-tho

Phạm Tương Như: Bây giờ, chúng ta trở lại với chủ đề chính hôm nay nhé! Thưa nhà văn Điệp Mỹ Linh, xin chị cho biết hoàn cảnh nào và nguyên do gì khiến chị bỏ nhiều công sức để tìm tòi, góp nhặt hầu thực hiện một bộ sách rất công phu và phải nói thật cũng khá khô khan đối với chúng ta.
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý khán thính giả, thưa anh Huy Tâm và anh Phạm Tương Như, như đã thưa, tôi chỉ là một ngòi bút tài tử, vì không chơi đàn được nữa, cho nên, phải viết để giải tỏa nỗi niềm chứ tôi không thích chính trị, không có cao vọng để trở thành nhà văn. Vì thế, đối với tôi, viết một cuốn tài liệu rất nhiêu khê chứ không dễ như viết truyện.
Nhưng, cuối thập niên 70, trong Đại Hội Hội Cựu Quân Nhân VNCH, tại Houston, có sự hiện diện của cựu trung tướng Vĩnh Lộc – Tham Mưu Trưởng cuối cùng của Quân Lực VNCH – tôi được mời phát biểu cảm tưởng về Người Lính VNCH. Khi tôi trở lại chỗ ngồi, cựu trung tướng Vĩnh Lộc đến gặp tôi, để nghị tôi nên viết về cuộc di tản của Hải Quân VNCH, 1975.
Tôi đáp: - Thưa trung tướng, cuộc di tản do Hải Quân VNCH thực hiện là một đề tài quá lớn, em chỉ là ngòi bút “tài tử”, em ngại em không kham nỗi!
Tướng Vĩnh Lộc bảo: - Madam từng tháp tùng các cuộc hành quân hỗn hợp trên sông rạch, madam thường viết về lính và sông nước, biển khơi và nhất là madam đã có mặt và quan sát ngay từ đầu của cuộc di tản vĩ đại của Hải Quân. Tôi nghĩ, không một ngòi bút nào hội đủ được nhiều yếu tố như madam để viết về cuộc di tản của Hải Quân VNCH.
Tôi vẫn từ chối. Nhưng, lần nào gặp tôi Trung tướng Vĩnh Lộc cũng đều nhắc tôi về chủ đề của chuyến ra khơi lịch sử 1975.
Tôi chỉ xác nhận: - Chuyện Hải Quân, để mấy ông Hải Quân lo. Một mình em lo không nổi đâu, Trung Tướng!
Một hôm, ông Minh và tôi mời tướng Vĩnh Lộc đến nhà chúng tôi dự tiệc cùng với rất đông bạn hữu của chúng tôi. Sau khi tiệc tan, mọi người ra về, tướng Vĩnh Lộc ở lại sau cùng để kể cho ông Minh và tôi nghe về trận chiến khốc liệt tại đồn Pleime khi tướng Vĩnh Lộc là Tư Lệnh Quân Đoàn II Vùng II Chiến Thuật.
Tôi bị xúc động mạnh! Không hiểu vì những chi tiết hào hùng của quân VNCH trú đóng trong đồn Pleime hay là vì những nét khắc khổ đớn đau trên khuôn mặt cằn cỗi của một vị tướng không còn uy quyền? tướng Vĩnh Lộc! Tối đó, tôi viết truyện ngắn Người Trở Lại Pleime, hôm sau, tôi liên lạc với tướng Vĩnh Lộc và xác định rằng: Tôi sẽ thực hiện và hoàn tất tài liệu về chuyến di tản lịch sử của Hải Quân VNCH.

Huy Tâm: Xin chị cho biết, mất bao nhiêu thời gian để chị hoàn thành Bộ sách này và đã được ra đời từ bao giờ.
Điệp Mỹ Linh: Kính thưa quý vị, thời điểm 1975/1976 tôi phải đi làm hai việc để phụ với ông Minh nuôi các con tôi ăn học và giúp gia đình của tôi bên Việt Nam vì Ba và các em trai của tôi đều bị cộng sản Việt Nam nhốt tù, Má và các em gái của tôi bị đuổi đi kinh tế mới.
Sĩ quan Hải Quân VNCH di tản đều sống rải rác khắp năm châu. Thời đó chưa có internet và cell phone. Mọi cuộc phỏng vấn do tôi thực hiện đều bằng điện thoại hoặc bằng thư, qua bưu điện. Có vị không đồng ý trả lời qua điện thoại hoặc thư, thế là ông Minh và tôi, cuối tuần, phải “bay” đến, để tôi lo việc phỏng vấn – có thu âm – và ông Minh cũng được gặp lại bạn hữu Hải Quân. Nhưng khi thấy “bills” điện thoại hoặc tiền vé máy bay, ông Minh lại “cự” tôi, bảo tôi “lo việc bao đồng”!

Phạm Tương Như: Quả thật đây cũng là một sự hy sinh đáng ca ngợi.
Điệp Mỹ Linh: Nhân đây, tôi cũng thành thật biết ơn đại gia đình Hải Quân VNCH, cố giáo sư Nguyễn Ngọc Linh – nguyên Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã và cũng là Chủ Nhiệm bán nguyệt san Ngày Nay và cố nhà báo Trọng Kim Trương Trọng Trác, Chủ Bút bán nguyệt san Ngày nay, vì những vị này đã giúp đỡ và khuyến khích tôi rất nhiều trong thời gian tôi vừa thực hiện cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 vừa viết bài cho Ngày Nay.

Huy Tâm: Như thế, đến năm nào thì hoàn tất tác phẩm sách này, và cuốn tài liệu này được ra đời như thế nào, thưa chị?
Điệp Mỹ Linh: Cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi 1975, được hoàn tất và ra đời năm 1990, tức là tôi phải mất khoảng 14,15 năm mới hoàn tất được.
Thập niên 80/90, tình trạng báo chí ở hải ngoại phát triển mạnh, chỉ có tệ nạn báo chí “phe ta” chửi “phe mình” thì không ai can nỗi! Vì vậy – dù năm 1987, tôi đã thành công vượt bực khi ra mắt tập truyện Bước Chân Non tại Hyatt Regency, tọa lạc tại góc I-10 và hwy 6, Houston – Ba tôi và tôi cũng quyết định không ra mắt sách nữa, chỉ tổ chức tiệc tại nhà, mời một số bạn hữu và tặng mỗi vị một cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975.

Phạm Tương Như: Từ năm 1990, nghĩa là đã hơn ba thập niên rồi, vậy thì từ đó đến nay đã được tái bản lần nào chưa, thưa chị?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý khán thính giả, thưa anh Phạm Tương Như và anh Huy Tâm, cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 được tác giả tái bản lần đầu vào năm 2011; lần thứ hai, 2019, Amazon tái bản. Nhưng khi Amazon gửi bản thảo tái bản cho tôi xem lại, tôi sơ ý, không thấy là Anazon ghi “tái bản lần thứ I”. Tôi sẽ liên lạc với Amazon để Amazon điều chỉnh số I thành số II.

Huy Tâm: Sách báo ngày nay đã lỗi thời
Cứ mười độc giả chín người thôi
Viết lách dường như là nghiệp dĩ
Đeo đẳng theo ta suốt cuộc đời
Thưa quý khán thính giả, khi nền công nghệ internet đã chiếm lĩnh một không gian rất rộng trong cuộc sống của chúng ta, thì chuyện in ấn sách báo cầm bằng một cuộc cờ chưa đánh đã thua. Vậy mà quyển tài liệu lịch sử Hải Quân VNCH Ra Khơi đã được tái bản lần thứ hai vào năm 2019, quả là một sự kiện hiếm hoi trên trường văn trận bút thời nay.
Xin chúc mừng chị.
Điệp Mỹ Linh: Xin cảm ơn anh Huy Tâm. Bốn câu thơ của anh thật là thấm thía, diễn đạt được tất cả nỗi niềm của người Việt Nam cầm bút tại Hải Ngoại.

Phạm Tương Như: Thưa chị, đây là một cuốn sách về tài liệu lịch sử, vậy xin chị hãy tóm lược nội dung để quý đồng hương biết thêm về những gì chị muốn trình bày.
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý vị, cuốn tài liệu Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 gồm có 11 chương, không kể phần Thay Lời Tựa. Sau đây là mục lục:
Chương I: Sơ Lược Lịch Sử Hải-Quân Việt-Nam Cộng-Hòa
Chương II: Các Vị Tư-Lệnh Hải-Quân
Chương III: Sự Tổ Chức Của Hải-Quân – Về Hành Quân
Chương IV: Cuộc Đàm Thoại Bất Ngờ
Chương V: Những Biến Chuyển Quân Sự Và Các Cuộc Rút Quân bằng đường biển.
Chương VI: Những Đột Biến Tại Các Vùng Sông Ngòi
Chương VII: Kế Hoạch Phòng Thủ Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Hải Quân Công Xưởng.
Chương VIII: Chuyến Ra Khơi Bi Hùng
Chương IX: Phỏng Vấn Những Nhân Vật Liên Hệ Đến Chuyến Ra Khơi Cuối Cùng Của Hải-Quân V.N.C.H.
Chương X: Những Vị Anh Hùng Hải-Quân V.N.C.H.
Chương XI: Những Dòng Ký Ức
 
Huy Tâm: Thưa chị, tài liệu lịch sử là những chứng tích lưu lại cho hậu thế, và dĩ nhiên không chỉ dành riêng cho một sắc tộc nào. Vậy chị đã có, hoặc đang dự định chuyển thể Bô sách Hải Quân VNCH Ra Khơi sang các ngôn ngữ khác, hầu quảng bá rông rãi hơn không, thưa chị?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý khán thính giả cùng anh Huy Tâm và anh Phạm Tương Như, ngay từ khi cuốn tài liệu lịch sử Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 chào đời, tôi đã ước mong cuốn tài liệu này được dịch ra ngoại ngữ, nhưng, con tôi – từ bé học nội trú trường Regina Pacis và Notre Dame des Missions – cho nên không biết tiếng Việt nhiều.
Tháng 9 ngày 11 năm 2001, Hoa Kỳ bị không tặc xâm phạm nặng nề tại New York, tôi đang du lịch tại Nga. Thấy trên TV tòa Tháp Đôi phừng phực lửa, tôi xúc động nhiều, viết ngay tại phi trường Frankfurt Tùy Bút Tạ Ơn Mảnh Đất Này.
Sau khi bài Tạ Ơn Mảnh Đất Này được phổ biến trên nhiều báo Việt ngữ, ông  Merle L. Pribbenow đọc được, dịch sang tiếng Anh, chuyển đến báo Ngày Nay, nhờ ông Nguyễn Ngọc Linh đăng và chuyển cho Điệp Mỹ Linh.
Đọc bài dịch, các con tôi và tôi đều thích và tôi ngỏ ý muốn nhờ ông Pribbenow dịch cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975, có thù lao. Nhưng, ông Minh không đồng ý.
Sau khi ông Minh qua đời, tôi liên lạc lại với ông Pribbenow thì ông Pribbenow emailed hồi đáp bằng tiếng Việt rằng: “Rất tiếc, tôi già rồi và vợ tôi đang bị bệnh hiểm nghèo, tôi phải lo cho vợ tôi!”
Gần đây tôi cũng liên lạc vài nơi để tìm người dịch, nhưng, tôi hiểu, cuốn Hải Quân VNCH Ra Khơi, 1975 gồm nhiều danh từ, động từ “riêng” của Hải Quân, rất khó dịch.

Phạm Tương Như: Thưa chị, cho đến thời điểm này, tháng 6/2022, tổng số các tác phẩm chị đã xuất bản là bao nhiêu quyển và chị có đang chuẩn bị thêm đứa con tinh thần nào nữa để ra mắt đồng hương chăng?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý vị, tổng số tác phẩm của ĐML đã xuất bản là 12 tác phẩm. Hiện tại, nhà xuất bản Nhân Ảnh – thành viên của Amazon – đang lo bìa để xuất bản 2 tác phẩm kế tiếp của Điệp Mỹ Linh là Quốc Ca Mới Của Đảng và Tự Truyện Của Tím.

Huy Tâm: Khi tác phẩm mới được hoàn tất, chị có sẵn lòng cho phép chương trình Tác Giả & Tác Phẩm được giới thiệu cùng quý độc giả khắp nơi chăng?
Điệp Mỹ Linh: Thưa quý khán thính giả, anh Huy Tâm và anh Phạm Tương Như, tôi rất cảm ơn nhã ý của anh Huy Tâm cùng chương trình Tác Giả &Tác Phẩm của Mac USA Media show. Việc làm của quý vị vô cùng ý nghĩa, đã góp công gìn giữ và quảng bá tiếng Việt nơi đất khách và đặc biệt giúp giới thiệu những sáng tác mới đến với độc giả.

Phạm Tương Như: Thưa chị và thưa quý khán giả! Chương trình này được sự bảo trợ của Mac USA Media Show là môi trường để chúng em, anh Huy Tâm, có cơ hội đóng góp bàn tay nhỏ bé hầu chuyển tải những nỗi niềm, những điều tâm huyết của người đi trước đến với các thế hệ trẻ trong mai hậu.
Điệp Mỹ Linh: Xin ngưỡng phục về việc làm của quý vị và cầu chúc Mac USA Media Show mãi mãi phát triển, quý anh chị luôn được dồi dào sức khỏe để tiếp tục hành trình cao đẹp này.

Huy Tâm: Thời lượng của chúng ta cũng sắp hết, mời nhà văn Điệp Mỹ Linh gửi lời chào tạm biệt đến quý khán giả trước khi rời phòng thu âm.
Điệp Mỹ Linh: Điệp Mỹ Linh xin trân trọng kính chào quý khán thính giả cùng anh Huy Tâm và anh Phạm Tương Như.

Phạm Tương Như: Phạm Tương Như cũng xin chào tạm biệt nhà văn Điệp Mỹ Linh, chào tạm biệt quý khán giả, và hẹn tái ngộ trong chương trình kỳ sau,
Huy Tâm: Món quà tạm biệt trong chương trình hôm nay là ca khúc Nỗi Nhớ Mênh Mông, nhạc và lời Dương Thượng Trúc qua giọng hát Quang Minh, sẽ thay lời chúc sức khỏe của toàn thể nhân viên Macusa cùng BBT Chương trình TG&TP gửi đến quý vị và hẹn tái ngộ trong chương trình kỳ sau, cũng vào ngày giờ thường lệ.
Trân trọng kính chào.



Tâm tình về


NGƯỜI LÍNH NĂM XƯA

Phạm Phú Nam & Điệp Mỹ Linh

Dân Sinh Media Network: Trong chương trình phát thanh hôm nay, chúng tôi kính mời quý thính giả theo dõi cuộc đàm thoại giữa ông Phạm Phú Nam và nhà văn Điệp Mỹ Linh.
Bà Điệp Mỹ Linh là tác giả cuốn tài liệu Hải-Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975. Đây là một tài liệu quý giá viết về quân chủng Hải-Quân.
Trong thời kỳ chiến tranh, bà Điệp Mỹ Linh thường tháp tùng các đơn vị tác chiến Hải-Quân, dưới sự chỉ huy của Hải-Quân trung tá Hồ Quang Minh – phu quân của Bà – trong những cuộc hành quân hỗn hợp trên sông rạch thuộc vùng IV Sông Ngòi. Bà đã chứng kiến nhiều cuộc giao tranh ác liệt giữa các đại đơn vị Việt Cộng và Hải-Quân V.N.C.H. trên những dòng sông chằn chịt thuộc vùng U Minh hung hiểm.
Vào thời điểm 30 tháng Tư, 1975, bà Điệp Mỹ Linh may mắn đã cùng gia đình thoát khỏi Việt-Nam trên Đương Vận Hạm Thị Nại, HQ502. HQ502 cùng với Hạm Đội Hải-Quân V.N.C.H. đã thực hiện sứ mệnh cuối cùng của Hải-Quân là đưa hơn 30 ngàn đồng bào và quân bạn đến bến bờ Tự Do.
Là một phụ nữ có chồng là Lính, bà Điệp Mỹ Linh đã sống đoạn đường gian khổ trong các trại gia binh. Bà can đảm theo chồng hành quân. Bà còn là một nhân chứng đặc biệt trong chuyến hải hành cuối cùng của Hải Quân V.N.C.H. Bà chứng kiến những cuộc tiếp cứu trên sông, trên biển và sự hy sinh tận tụy của Thủy Thủ Đoàn. Những gì Bà đã trải qua, đã mục kích, tác động rất mạnh vào tâm cảm và tư duy của Bà cùng với sự ngưỡng phục của Bà dành cho quân chủng Hải-Quân là nguyên nhân đã thúc đẩy Bà thu thập tài liệu để thực hiện cuốn tài liệu Hải-Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975.
Hôm nay Dân Sinh xin hân hạnh giới thiệu và kính mời quý thính giả cùng nghe cuộc đối thoại giữa ông Phạm Phú Nam và bà Điệp Mỹ Linh. (1)

- Tôi là Phạm Phú Nam, xin kính chào quý thính giả khắp nơi. Hôm nay chúng tôi được tiếp chị Điệp Mỹ Linh, là một tác giả nổi tiếng của Hải-Quân về những tác phẩm viết về Hải-Quân.
Xin chào chị Điệp Mỹ Linh.
- Điệp Mỹ Linh xin trân trọng kính chào quý thính giả và kính chào anh Phạm Phú Nam.
- Thưa chị, bây giờ là hơn 39 năm tỵ nạn, còn vài tháng nữa là 40 năm. Bốn mươi năm nhìn lại, xin chị cho biết, 40 năm trước, vào thời điểm 30 tháng Tư, chị rời Việt-Nam trong trường hợp nào?
- Thưa anh, tôi cùng gia đình rời Việt-Nam khoảng 12 giờ đêm 29 tháng Tư 1975, bằng ngã Sở Hàng Hà. Từ chiều 29 tháng Tư, ông nhà tôi liên lạc với nhiều đơn vị nhưng không được đơn vị nào trả lời. Gia đình tôi cùng một số bạn hữu vào Sở Hàng Hà. Ông nhà tôi nhờ một giang đỉnh đưa sang Dương Vận Hạm Thị-Nại, HQ502 – lúc đó HQ502 đang cặp cầu trước Bộ Tư Lệnh Hải-Quân.
Giang đỉnh cập bên hông HQ502, mé ngoài sông. Thành tàu rất cao, nước chảy xiết, không có cầu bắt lên HQ502 cho nên phụ nữ và trẻ em gặp rất nhiều khó khăn. Nhưng, nhờ những người có mặt trước trên HQ502 giúp đỡ tận tình cho nên chúng tôi nhập hạm một cách an toàn.
Sau khi lên được HQ502, tôi thấy chiến hạm đầy người, không còn một chỗ trống.
Khoảng 12 giờ rưỡi hay 1 giờ sáng 30 tháng 04-75, HQ 502 rời bến, giang hành về hướng Nhà Bè. Gần đến Nhà Bè tôi thấy lửa rực trời vì kho xăng Nhà Bè bị trúng đạn pháo kích của Việt Cộng.
Trên đường ra biển, HQ502 vớt thêm không biết bao nhiêu đồng bào và quân bạn từ ghe nhỏ và chiến đỉnh. Trong số quân nhân được HQ502 vớt, tôi được biết có khoảng 60 Người Nhái – thuộc Liên Đoàn Người Nhái – Hải Quân trung tá Trịnh Hòa Hiệp, chỉ huy trưởng Liên Đoàn Người Nhái và Hải-Quân đại tá Trịnh Quang Xuân, Tư Lệ Vùng III Sông Ngòi, từ một PBR (River Patrol Boat – Giang Tốc Đỉnh).
Sáng 01 tháng 05 – 1975, HQ502 ra đến biển.
- Xin cảm ơn chị. Tôi muốn hỏi chị, vào những ngày cuối tháng Tư chị có cảm nhận hoặc cảm thấy tình hình chính trị của đất nước diễn biến như thế nào không?
- Thưa anh, tôi chỉ xin nói những gì tôi thấy, tôi biết, trong phạm vi Hải-Quân mà thôi.
Thời điểm đó tinh thần tôi rất rối loạn. Theo báo chí, TV và đài BBC thì quân của V.N.C.H. cứ bị đẩy lùi dần về phía Nam – vì thiếu vũ khí, thiếu đạn dược và cũng vì kẹt đồng bào chạy theo cho nên Lính V.N.C.H. không thể chống trả những đợt tấn công của Việt Cộng! Khi ông nhà tôi cho biết chiến hạm Hải-Quân đã di tản đồng bào và quân bạn khỏi vùng II Duyên Hải thì tôi hoàn toàn không còn tự chủ được; vì em tôi, đại úy Pháo Binh bị kẹt tại Phù-Cát và đại gia đình của tôi bị kẹt tại Cam-Ranh, chỉ một mình tôi ở Saigon!
Tôi nhờ ông nhà tôi xem có chiến hạm nào ra Trung, xin cho tôi quá giang để về đón đại gia đình của tôi. May mắn là Dương Vận Hạm Nha-Trang, HQ505, Hạm Trưởng là Hải-Quâng trung tá Nguyễn Văn Nhượng, đang nhận đạn tại Thành Tuy Hạ để tiếp tế cho mặt trận Phan-Rang. Tôi quyết định xin theo HQ505 đến Phan-Rang rồi sẽ tìm phương tiện về Cam-Ranh.
Khi HQ505 đến hải phận Phan-Rang thì Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh – đang chỉ huy các đơn vị Hải-Quân Vùng II Duyên Hải, từ Tuần Dương Hạm Trần Nhật Duật, HQ3, tại vịnh Phan-Rang – không cho HQ505 ủi bãi. Lúc đó tôi mới biết Việt Cộng đã chiếm Phan-Rang và tôi thấy hai xe tăng T54 ngay bãi biển, chỉa mũi súng ra HQ3 và HQ505! Tôi thấy ghe thuyền ồ ạc chèo ra HQ505; trên ghe toàn lính, đủ mọi quân binh chủng! Tôi khóc cho gia đình tôi. Tôi khóc cho những oan khiên đang phủ chụp xuống Quê Hương tôi. Và tôi khóc cho thân phận những người lính đang cố giăng cao chiếc áo trận để thủy thủ đoàn dễ nhận diện!
Hạm Trưởng Nhượng sắp bước lên đài chỉ huy. Tôi gọi: “Anh Nhượng!” Nhượng dừng bước, nhìn tôi. Tối tiếp: “Anh không vớt mấy ông lính trên ghe sao?” Hạm Trưởng Nhượng im lặng một thoáng như cố nén xúc động rồi đáp: “Tôi được lệnh không vớt ai cả. Một tàu đạn đầy!”
HQ505 bẻ một vòng cua ngặt để rời vùng biển Phan-Rang.
Trên hải hành xuôi Nam, HQ505 được tin Dương Vận Hạm Vũng-Tàu, HQ503 – vừa hoàn tất công tác vớt nhóm quân nhân Nhảy Dù trong vịnh Cà-Ná, theo lệnh của Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, từ trực thăng – bị Việt Cộng lấy pháo binh của V.N.C.H. bắn trúng đài chỉ huy, gây tử thương cho bốn năm người. Sau đó, HQ505 được tin Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi – Tư Lệnh Tiền Phương Quân Đoàn III – bị Việt Cộng bắt tại hầm chống pháo kích, sau khi Ông bay trở lại mặt trận Phan-Rang!
HQ505 đến Phan Thiết vào buổi chiều. Tối đó tôi thấy đạn xẹt xanh đỏ cả vòm trời rồi rơi xuống Phan Thiết. Phan Thiết bị Việt Cộng pháo kích liên tục và dai dẳng! HQ505 nhận được tín hiệu kêu cứu của Tỉnh Trưởng Phan Thiết, nhưng đành chịu!
- Vào thời điểm đó, phu quân của chị là một sĩ quan cao cấp, chị có nghĩ rằng miền Nam sẽ mất vào tay Cộng Sản hay không?
- Thưa anh, ngay như khi ông Vũ Văn Mẫu đuổi Mỹ ra khỏi Việt-Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, tôi cũng không nghĩ rằng miền Nam sẽ mất vào tay Cộng Sản. Lý do là Hải Quân V.N.C.H. không có dự trù gì cả. Đô Đốc Chung Tấn Cang có ý định đưa Hạm Đội ra Phú-Quốc hoặc về Vùng IV Sông Ngòi, chỉnh đốn hàng ngũ để chuẩn bị cho cuộc chiến lâu dài hoặc là nhờ Liên Hiệp Quốc cang thiệp; vì Việt Cộng đã ký Hiệp Định Genève, năm 1954, nhưng Việt Cộng đã vi phạm. Nếu Liên Hiệp Quốc không cang thiệp thì Hạm Đội sẽ về Vùng IV, vì thời điểm đó tình hình Vùng IV rất yên tĩnh.
Sau này tôi được dịp phỏng vấn Trung Tướng Vĩnh Lộc – Tổng Tham Mưu Trưởng cuối cùng của V.N.C.H. – thì Tướng Vĩnh Lộc xác nhận rằng chính Tướng Vĩnh Lộc điện thoại trực tiếp cho Tướng Nguyễn Khoa Nam – Tư Lệnh Vùng IV Chiến Thuật. Tướng Lộc cho Tướng Nam biết rằng: Nếu không giữ được Saigon, Chính Phủ sẽ di tản xuống Vùng IV và giao trách nhiệm chỉ huy chiến trường cho Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tướng Nam đáp: “Vâng. Đàn anh đã giao phó thì đàn em xin nhận lệnh”. Điều này xác nhận rằng Hải Quân V.N.C.H. không hề có bất cứ một dự tính nào để Hạm Đội rời khỏi hải phận Việt-Nam.
Nhưng cuối cùng, ông Richard L. Armitage – nguyên là cố vấn của Hải Quân – khuyên Hạm Đội nên tập trung tại Côn Sơn để xem tình hình chính trị diễn tiến như thế nào rồi mới hoạch định những bước kế tiếp.
Lúc đó Hạm Đội mới được chỉ thị tập trung tại Côn-Sơn.
- Chị vui lòng thuật lại những biến động quanh hoặc trên HQ502 mà chị đã ra đi. Hải trình của HQ502 như thế nào? Có bị trở ngại gì không? Bao nhiêu người trên HQ502?
- HQ502 rời Saigon, theo sông Soài Rạp. Sau khi chúng tôi rời trại tỵ nạn Camp Pendleton, báo Mỹ phỏng vấn, ông nhà tôi cho biết HQ502 đã chuyên chở khoảng trên năm ngàn đồng bào và quân bạn.
Khi HQ502 ra đến biển, chúng tôi được tin Việt Cộng bắn vào thương thuyền Việt Nam Thương Tín, gây tử thương cho nhiều người, trong số nạn nhân có nhà văn Chu Tử.
HQ502 chỉ còn một máy, đang “ì ạch” tiến, bỗng một L19 bay đến, lượn quanh chiến hạm. Mọi người trên tàu đều nằm rạp xuống, vì sợ Việt Cộng lấy phi cơ của V.N.C.H. bay theo để tấn công chiến hạm. Đến vòng thứ ba, L19 sà thấp xuống, cách mũi HQ502 khoảng 50 thước và anh phi công phụ nhảy ra. Nhiều phao nổi được vất xuống biển.
Trong khi mọi người chưa biết phương cách nào để cứu anh phi công phụ thì Người Nhái Nguyễn Văn Kiệt chụp con dao cá nhân, mang vội đôi chân nhái, tròng vào người một áo phao và mang theo một áo phao cho nạn nhân rồi nhảy xuống biển.
Sau khi vớt được phi công phụ, Người Nhái Kiệt cố bơi theo tàu nhưng vì sức nước bị bánh lái tàu đẩy mạnh ra sau khiến anh Kiệt rất vất vả và khó khăn trong việc cấp cứu.
Trong khi anh Kiệt đang tận lực chống chọi với sức đẩy của nước thì trên không trung chiếc L19 đảo lại một vòng nữa và anh phi công nhảy ra. Thân người của anh phi công vừa chạm mặt nước liền bị tưng lên rồi chìm trong khi chiếc L19 không người lái cũng đâm vào lòng biển.
Anh phi công phụ – đang trong vòng tay cứu vớt của anh Kiệt – hét to: “Anh thả tôi ra, tới cứu giùm bạn tôi”. Anh Kiệt đáp: “Tôi chưa biết tôi có thể cứu anh được hay không vì chúng ta đang bị sóng đẩy lùi ra sau thì làm thế nào tôi có thể cứu bạn anh?”
HQ502 quay lại, vớt cả anh Kiệt và anh phi công phụ trong tiếng reo hò vang dội của mọi người trên tàu.
- Sau đó tình trạng của anh phi công và anh phi công phụ như thế nào?
- Anh phi công chìm luôn. Thời điểm đó gia đình tôi tạm trú tại khoảng không gian nhỏ, giữa đài chỉ huy và sàn tàu – Hải Quân Việt-Nam gọi là “sân thượng”, Hải Quân Hoa Kỳ gọi là spardeck (2). Ngay khuya hôm đó tôi thấy một bóng trắng, gần nơi gia đình tôi tạm trú, phóng mạnh, vượt qua khoảng không gian của sàn tàu và rơi vào lòng biển! Nhiều người và tôi cùng la lên “Có người tự tử!” nhưng tàu vẫn tiến, không ai có thể làm gì được! Về sau nhiều người kiểm chứng và cho biết người tự tử là anh phi công phụ của chiếc L19!
- Điều đó đúng hay không, thưa chị?
- Thưa anh, cả 5 ngàn người trên tàu không ai có thể xác quyết được đúng anh phi công phụ hay không. Nhưng điều quan trọng là không hề thấy hoặc nghe anh phi công phụ lên tiếng. Mấy mươi năm qua cũng chẳng nghe anh phi công phụ lên tiếng.
- Thưa chị, anh phi công phụ đã được cứu, tại sao anh ấy lại tự tử?
- Tôi nghĩ truyền thống cao đẹp của Người Lính V.N.C.H. là Huynh Đệ Chi Binh, lúc nào cũng lo lắng, giúp đỡ nhau. Có thể lúc đầu anh phi công cho anh phi công phụ lên máy bay là có ý giúp bạn. Về sau, anh phi công phụ lại được Người Nhái Kiệt cứu giúp một lần nữa – trên biển – trong khi ân nhân của anh thì không. Có thể trong thời gian hoảng loạn đó anh phi công phụ nghĩ đến Cha Mẹ vợ con bị kẹt lại,  chỉ còn vị ân nhân mà vị ân nhân đó cũng không sống được, vậy thì mình sống để làm gì! Đây là tôi suy ra từ tâm trạng của tôi, bởi vì niềm đau khổ đó rất to lớn, rất sâu xa, không dễ gì vượt qua!
- Xin chị cho biết nhận xét của chị về Người Lính V.N.C.H – đặc biệt là thủy thủ đoàn – như thế nào trong chuyến di tản đó.
- Thưa quý vị thính giả, thưa anh Nam, điều nhận xét của tôi không phải để đề cao quân chủng Hải Quân. Sự thật thì Hải Quân là một trong những quân binh chủng của Q.L./V.N.C.H. có truyền thống tốt đẹp, đạo đức và tinh thần kỷ luật rất cao, nhờ vậy, những cuộc di tản từ Vùng I Chiến Thuật cho đến suốt cuộc di tản vĩ đại đầu tháng 05-1975 không hề xảy ra bất cứ một sự việc đáng tiếc nào.
Anh nhớ những cuộc di tản từ miền Trung bằng xà-lan, ghe hoặc tàu dân sự vào Vũng Tàu hoặc Phú Quốc thê thảm như thế nào không? Vì Việt Cộng đã lấy quân phục của Lính V.N.C.H. mặc rồi cố ý gây những điều tàn ác để làm giảm uy tín của Người Lính V.N.C.H. Những thảm trạng đó không hề xảy ra trên bất cứ chiến hạm nào của Hải Quân, vì Hải Quân đã đề cao cảnh giác, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống để giữ an ninh cho đồng bào và đồng đội. Vả lại, tôi nghĩ, thời gian đó, mọi người đều rơi vào tâm trạng đau đớn, khổ sở và hoang mang trước một thực thể không thể chấp nhận được cho nên không ai còn tâm trí nghĩ đến những điều tàn ác để hại nhau.
- Xin chị cho biết tâm trạng cũng như vấn đề thức ăn, nước uống và vệ sinh cho cả năm ngàn người trên chiến hạm?
- Thưa anh, mấy anh hỏa đầu vụ lo nấu cơm liên tục – ngày cũng như đêm – mới đủ để cung cấp cho đồng bào và quân bạn,  nấu nước sôi cho em bé uống sữa. Mấy anh thủy thủ dùng gỗ đóng nhà vệ sinh “dã chiến” dọc theo thành tàu để giải quyết vấn đề vệ sinh. Nhưng tội nghiệp nhất là cảnh nhiều thủy thủ, sĩ quan và hạ sĩ quan, vợ con bị kẹt lại, tối họ đứng riêng, khóc một mình. Nhưng khi ngày đến, họ đều trở lại “vị trí hoặc nhiệm sở” để phục vụ đồng bào và đồng đội.
Về tâm trạng, tôi nhận thấy trong mắt và trên nét mặt của mỗi người đều mang nét u buồn, thất vọng. Khi nói chuyện với người Lính tôi mới nhận ra rằng quân nhân là những người đau khổ nhất! Bao nhiêu năm hết lòng chiến đấu cho Quê Hương, nếu họ được gục ngã ngoài chiến trận thì họ gục ngã cho Quê Hương, vì Quê Hương, linh hồn của họ có thể yên nghỉ trong niềm hãnh diện của người trai đã làm tròn sứ mạng. Nhưng họ đã không được gục ngã để ngày nay phải thấy đồng bào và đồng đội dắt díu nhau ra đi và Quê Hương rơi vào tay Cộng Sản! Đó là những quân nhân đem theo được vợ con, còn những quân nhân không thể đem Cha Mẹ vợ con theo thì niềm đau khổ của họ là vô tận!
Một sĩ quan cao cấp Hải Quân – cựu Hải-Quân đại tá Đỗ Kiểm, nguyên Tham Mưu Phó Hành Quân Bộ Tư Lệnh Hải Quân (3) – là một điển hình. Với cấp bậc và chức vụ như vậy, đại tá Kiểm đã đặt trách nhiệm trên hết. Đại tá Kiểm đã lo cho đoàn tàu, lo cho mọi người, không có thì giờ về cư xá đưa vợ con của Ông đi.
Khi Hạm Đội đến Guam, được lệnh phải cởi bỏ cấp bậc, nhiều ông khóc! Tôi nghĩ rằng đó là những giọt nước mắt tủi nhục! Họ tủi nhục vì mấy mươi năm chiến đấu mà vẫn không giữ được miền Nam! Tôi nghĩ, lý do mình không giữ được miền Nam không phải trong tầm tay của người dân miền Nam hoặc do chính phủ miền Nam hoặc do khả năng chiến đấu của Người Lính V.N.C.H. Sự thất thủ miền Nam đến từ bàn hội nghị và cũng do sự lừa đảo của Cộng Sản Việt Nam. Cộng Sản Việt Nam xâm phạm hiệp định ngưng chiến năm 1973 không phải bằng súng đạn mà bằng sự xảo trá, gian manh tại bờ sông Thạch Hãn.
Theo nhà văn quân đội Phan Nhật Nam ghi lại thì, trong thời gian ngưng chiến, Việt Cộng bỏ súng, sang phòng tuyến Thủy Quân Lục Chiến V.N.C.H., bảo: “Anh em cả. Ngưng chiến dzồi, thích quá! Chúng tôi thèm thuốc hút, thèm ăn, các anh ủng hộ tí.” Thủy Quân Lục Chiến tin người, lấy thuốc quân tiếp vụ và thức ăn hộp đãi người anh em bên kia chiến tuyến. Ăn, hút xong, một tiếng “sát” vang lên, nhóm Việt Cộng rút lưỡi lê đâm mấy ông Thủy Quân Lục Chiến chết!
Tại một địa điểm khác, cũng bên sông Thạch Hãn, sáu tên Việt Cộng sang phòng tuyến của Thủy Quân Lục Chiến xin thức ăn và thuốc hút. Ăn, hút xong, nhóm Việt Cộng mời mấy ông Thủy Quân Lục Chiến sang thăm phòng tuyến của Việt Cộng. Mười hai Thủy Quân Lục Chiến theo sáu tên Việt Cộng đó rồi không bao giờ mười hai Thủy Quân Lục Chiến trở về!
- Rất nhiều người biết chị là tác giả của nhiều tác phẩm viết về Hải Quân. Xin chị cho thính giả biết chị viết những tác phẩm đó vào trường hợp nào?
- Tôi thực hiện cuốn Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975 vì lòng yêu mến, ngưỡng phục của tôi dành cho quân chủng Hải Quân. Suốt cuộc di tản năm 1975 tôi thấy Hải Quân đã thể hiện truyền thống cao đẹp của Hải Quân. Ngoài cuốn tài liệu về Hải Quân, tôi còn viết nhiều truyện ngắn về Hải Quân và Lính, thuộc đủ quân binh chủng. Lý do tôi có thể viết về Hải Quân và Lính là do ngày trước tôi thường tháp tùng các đơn vị tác chiến Hải Quân – dưới sự chỉ huy của Hải Quân trung tá Hồ Quang Minh – lênh đênh trên sông rạch thuộc Vùng IV Sông Ngòi.
Những lần Hải Quân đụng trận trên sông, khung cảnh quanh tôi thật “đẹp”, thật hào hùng, như xi-nê. Hình ảnh hùng tráng nhất là, ở những đoạn sông rộng, mấy chiếc forms (Truy Kích Đỉnh) hoặc PBR (River Patrol Boat – Giang Tốc Đỉnh) vừa bắn trả vừa lướt nhanh trên mặt nước, trong tầm đạn xối xả của Việt Cộng. Hình ảnh bi thảm nhất là những khi đoàn chiến đỉnh phải chuyển quân trên những đoạn sông hẹp!
Trận đánh ác liệt nhất mà tôi được mục kích xảy ra tại kinh Trèm Trẹm, thuộc tỉnh Kiên Giang, Rạch Giá. Thời điểm đó ông Minh là thiếu tá, chỉ huy Giang Đoàn 26 Xung Phong. Vào một đêm tối trời, tôi thấy hỏa châu chập chùng hướng kinh Trèm Trẹm – còn gọi là kinh Thứ  – và từ máy truyền tin tôi nghe tiếng kêu cứu từ đồn thứ 9. Thiếu tá Minh trực tiếp liên lạc với đại tá Tỉnh Trưởng xin chỉ thị. Đại tá Tỉnh Trưởng không chấp thuận cho đoàn giang đỉnh đi tiếp cứu, vì Trèm Trẹm là một kinh đào tương đối hẹp, đại tá sợ trách nhiệm! Đến khuya, từ máy truyền tin, lời kêu cứu khẩn thiết – hòa lẫn với tiếng đại pháo của Việt Cộng – từ đồn thứ  9 vẫn vang lên từ máy truyền tin. Thiếu tá Minh tự động đưa đoàn giang đỉnh vào đồn thứ 9. Đến nơi, dưới ánh hỏa châu, tôi thấy đồn thứ 9 không còn gì và quanh đồn lố nhố Việt Cộng! Dưới sức tác xạ vũ bão của đoàn chiến đỉnh, Việt Cộng “chém vè”.
Một trận chiến khác trên một kinh đào rất hẹp, thuộc quận Gia Rai, Chương Thiện. Giang Đoàn 26 Xung Phong đụng độ dữ dội với Việt Cộng.
Nhờ những chuyến hành quân đó, tôi thấy Quê Hương mình đẹp vô cùng. Người dân quê nghèo nhưng tâm họ hiền hòa và họ rất thương Lính. Họ thấy Lính là họ cảm thấy yên lòng như được nơi nương tựa. Khi nào chiến trận bùng nổ thì người dân chạy về phía Lính Cộng Hòa.
Sở dĩ Việt Cộng chiếm được nông thôn vì Việt Cộng dùng chính sách khủng bố, trả thù. Nếu Việt Cộng chiến đấu một cách can trường, ngay thẳng, không man rợ  – như Người Lính V.N.C.H. – thì không thể nào Việt Cộng chiếm được nông thôn. Bằng vào thời gian phiêu bạt trên những chiến đỉnh và căn cứ theo chiều dài lịch sử, kể từ ngày tôi đủ hiểu biết, thì chưa bao giờ có cảnh đồng bào Việt Nam chạy về phía Việt Cộng cả. Năm 1945, bao nhiêu đồng bào rời miền Bắc để di cư vào Nam? Năm 1972 ai khai sinh ra Đại Lộ Kinh Hoàng? Cái dã man tàn ác của Việt Cộng là Việt Cộng pháo kích ngay vào làn sóng người chạy loạn, đi tìm sự bảo vệ từ phía Quốc Gia. Năm 1975, sau khi Việt Cộng “giải phóng (!)” miền Nam, thống nhất đất nước, mà cả trên 30 ngàn người bỏ hết tất cả để ra đi, dù họ không biết sẽ đi về đâu và đi để làm gì! Sau đó, biết bao ngàn người phải liều chết trên biển để trốn khỏi một tập thể đầy ác tính? Từ đó Anh ngữ mới phát sinh ra danh từ Boat People. Tôi tin tưởng rằng Người Lính V.N.C.H. chiến đấu có lý tưởng, có chính nghĩa.
- Rất nhiều người nhận định rằng tác phẩm Hải Quân V.N.C.H. Ra khơi, 1975 giống như một cuốn hải sử. Làm thế nào chị có thể tìm được nhiều tài liệu, chi tiết như là sự tổ chức của Hải Quân, quân cụ và các chiến hạm v.v… mà chị đã viết ra?
- Thưa anh, tôi gặp rất nhiều khó khăn khi thực hiện cuốn tài liệu Hải Quân V.N.C.H. Ra Khơi, 1975. Thời gian đó tôi còn đi làm, các con tôi đang học đại học và thời điểm đó Internet chưa được thông dụng. Vì vậy, tôi chỉ có thể tận dụng hai ngày cuối tuần để liên lạc bằng điện thoại. Tiền điện thoại viễn liên khá cao. Có vị không trả lời bằng điện thoại, tôi phải “bay” đến để phỏng vấn, xin tài liệu, thu băng rồi về viết lại. Từ nhân vật này tôi tìm ra nhân vật khác. Tỷ dụ trung tá  Nguyễn Văn Nhượng – Hạm Trưởng HQ505 – cho tôi biết về cuộc rút quân tại Chu Lai thì cũng chính Hạm Trưởng Nhượng cho tôi biết thời điểm HQ505 tiến vào Chu Lai thì có những chiến hạm nào khác, Hạm Trưởng những chiến hạm đó là ai v.v… Tôi thuộc vào gia đình Hải Quân từ năm 1962 cho nên nhiều người biết tôi. Họ biết tôi có những hoạt động âm thầm nhưng đáng tin. Đại Gia Đình Hải Quân cũng nhận thấy rằng việc làm của tôi rất hữu ích, để ghi lại những biến chuyển trọng đại của lịch sử Việt Nam cận đại qua cuộc di tản vĩ đại do Hải Quân V.N.C.H. thực hiện. Nếu không ai ghi lại thì Cộng Sản Việt Nam sẽ bóp méo lịch sử cho nên Đại Gia Đình Hải Quân đã tận tình giúp tôi. Tôi tốn rất nhiều công sức, thời gian – từ cuối thập niên 70 cho đến năm 1990  mới hoàn tất – và tiền bạc,  nhưng bù lại, tôi rất may mắn được sự giúp đỡ vô điều kiện của hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan và thủy thủ, cũng như cựu trung tướng Vĩnh Lộc và ông Richard L Armitage.
Lúc nào tôi cũng quý mến và hãnh diện về Người Lính và quân chủng Hải Quân V.N.C.H.
- Dân Sinh xin cảm ơn chị rất nhiều,  vì đây là dịp nhìn lại quá khứ 40 năm lịch sử mà chị là một trong những nhân chứng và cũng là tác giả ghi lại những biến cố và sự kiện quan trọng của lịch sử. Bốn mươi năm nhìn lại, chị có ý nghĩ gì muốn chia xẻ với thính giả không?
- Thưa anh, ý nghĩ của tôi rất buồn. Bốn mươi năm qua mà Cộng Đồng Người Việt tỵ nạn không những không đồng nhất mà còn bị chia 5 xẻ 7 cho nên vấn đề đối đầu với Cộng Sản Việt Nam rất khó khăn. Cái khó khăn mà tôi nhận thấy và đã đưa vào truyện ngắn là: Thế hệ anh và tôi biết V.N.C.H. như thế nào,  thế hệ của các con của anh và con của tôi có thể hiểu chút ít. Nhưng đến thế hệ cháu của anh và cháu của tôi – thế hệ di dân thứ III – thì thế hệ thứ III này không biết V.N.C.H. là gì cả!
Cộng Sản Việt-Nam đưa rất nhiều sinh viên sang đây du học. Vấn đề bạn trai bạn gái giữa sinh viên du học và thế hệ di dân thứ III làm sao có thể tránh được? Thế hệ di dân thứ III được sinh ra và lớn lên trong một xã hội an bình, lương thiện, đạo đức, có văn hóa cao, hoàn toàn khác biệt với môi trường của những sinh viên sang đây du học và những người vợ người chồng được người Việt tỵ nạn về Việt Nam cưới đem sang đây. Những sinh viên du học hoặc vợ chồng “xuất cảng” từ Việt Nam – vì lớn lên trong một xã hội Việt Nam không có đạo đức, thiếu văn hóa – đã đem theo bản chất lừa lọc, dối trá, tham lam, ăn cắp, tàn ác. Những người “xuất cảng” từ Việt Nam sang đây không thực hiện những hành động tàn ác vì họ sợ pháp luật, nhưng những lời nói độc hại, những lời nói thô tục, những lời nguyền rủa của họ làm xáo trộn nếp sống văn minh và hiền hòa trong cộng đồng Việt Nam tại ngoại quốc.
Tuy nhiên, tôi cũng cảm thấy an ủi vì Mỹ bỏ cấm vận cho Việt Nam rất nhiều. Trong tương lai, nếu Mỹ đưa cố vấn về Việt Nam để huấn luyện cho quân đội Việt Nam, tôi hy vọng Mỹ sẽ chọn những sĩ quan Hoa Kỳ gốc Việt – tức là hậu duệ của Q.L.V.N.C.H.
Nếu niềm hy vọng của tôi thành sự thật thì tôi mong sao những vị cố vấn Mỹ gốc Việt đó hiểu rõ bản chất lừa đảo, gian manh, xảo trá của Cộng Sản Việt Nam. Bản chất của người Cộng Sản Việt Nam là họ không có lòng thương người. Cha Mẹ, vợ chồng, con cái mà họ còn đem đấu tố cho đến chết – trong chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất – thì làm thế nào họ thương ai!
- Xin cảm ơn chị Điệp Mỹ Linh đã dành cho chương trình phát thanh hôm nay cuộc phỏng vấn này. Chúc chị sức khỏe để viết về Người Lính V.N.C.H.
- Xin cảm ơn quý thính giả. Xin cảm ơn anh Phạm Phú Nam đã giúp cơ hội để Điệp Mỹ Linh được thố lộ những trăn trở và khắc khoải của mình.

(1)Sau khi bài phỏng vấn này được phổ biến, Người Tưởng Đã Tự Tử từ HQ 502 – ông Nguyễn Viết Nhiễm - liên lạc với Điệp Mỹ Linh. Điệp Mỹ Linh có bài phỏng vấn ngắn dành cho ông Nhiễm. Sau đó, ông Nhiễm nhờ Điệp Mỹ Linh giúp để Ông được liên lạc với Biệt Hải Nguyễn Văn Kiệt - người đã cứu ông Nhiễm trên biển, năm xưa - Ông Nhiễm đã đưa vợ con xuyên bang đi thăm gia đình Biệt Hải Nguyễn Văn Kiệt. Câu chuyện chiến tranh có đoạn kết rất đẹp!
(2)Theo sự giải thích của Cựu Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại.
(3)Ông Phạm Phú Nam đã nhắc Điệp Mỹ Linh về chức vụ của HQ/ĐT Đỗ Kiểm.