banner

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

Chữ nghĩa làng văn

tháng 5&6.2018

phingochung
Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

“Chữ nghĩa làng văn” đôi khi chỉ là một chữ, cụm từ, đoạn văn cô đọng, diễn nghĩa, diễn giải một áng thơ văn hoặc một thể tài nào đó. Những trích dẫn được góp nhặt qua sách vở, trên mạng lưới của nhiều tác giả thành danh hay khuyết danh, không ngoài góc nhìn tận tín thư bất như vô thư. Ấy là chưa kể nhiều từ ngữ, đề mục trong bộ sưu tập đang còn trong vòng nghi vấn, cần phải thẩm định lại nếu có thể được với những bậc thức giả văn kiến súc tích. Những phụ chú, dẫn chứng hay giai thoại do người viết kể lại, với chủ quan, khách quan chỉ cách nhau một sợi tóc. Vì vậy người sưu tầm không đặt ra “sai” hay “đúng”, vì cái sai hiện tại có thể là cái đúng ở một thời điểm nào khác. Xin chân thành cảm tạ và cáo lỗi những tác giả đã đóng góp bài vở trong sưu tập này, nhưng vì phương tiện eo hẹp nên người sưu tầm không thể thỉnh ý tác giả trước khi đăng tải.


Tiếng Việt vừa dễ vừa khó
Xin hỏi các huynh làm ơn cho hỏi: Chữ "cù lần".
Cù có phải là "cần cù". Nhưng mà "lần" là nghĩa lý gì? Cám ơn.
Đáp: Cù lần là tên gọi một con vật, in như là bà con đẻ ngược với sóc, sóc chuyền cành cây vèo vèo; còn "cù lần" thì lười biếng tận mạng, chỉ đeo tòng teng một chỗ hỏng thèm nhúc nhích.
Có dậy mà hông hay: Sao cha cù lần vậy cha!
(Trau giồi tiếng Việt - ĐatViet.com)

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Phía đông Saigon có một cái kênh gọi là rạch Thị Nghè hay là rạch Bà Nghè. Bà tên là Nguyễn Thị Canh, con gái thống suất Nguyễn Cửu Văn, đẹp duyên với một ông nghè. Để cho chồng bà tiện đường qua rạch hàng ngày vào làm trong thành, bà cho dựng một chiếc cầu mà dân sự có thể dùng được. Để tỏ lòng nhớ ơn một bậc nữ lưu, họ đã gọi cầu ấy là cầu Bà Nghè.
Trên rạch Bến Nghé hồi xưa có nhiều chiếc cầu ván dựng tạm cho người qua lại. Chiếc cầu nổi tiếng hơn cả là cầu Ông Lãnh, được xây nhờ công ông Lãnh binh, thời tả quân Lê Văn Duyệt. Còn những chiếc cầu khác là Cầu Muối, Cầu Khóm (thơm), Cầu Kho và Cầu học (giếng học).
(Hồ Đình Vũ - Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Ao
Ao : đong
Đấu nào ao được mà tin
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Chữ nghĩa làng văn
Câu “Thi trung hữu quỷ” là của cụ Nguyễn Du?

Văn học miền Nam nhìn từ miền Bắc
Những ấn tượng về sự đa dạng phong cách trong văn học Việt Nam hải ngoại để lại ở người viết bài tiểu luận này. Cùng viết về nông thôn miền Nam, Hồ Trường An thiên về miêu tả phong tục: cách cạo gió, ngày hội kỳ hương, cách chải tóc ba bảy rồi búi lại, lối chửi bới có vần có điệu “giòn hơn bánh tráng, trơn hơn mỡ”... còn trong tác phẩm của Kiệt Tấn mối quan tâm hàng đầu là mở ra kho tàng vô giá đạo đức và văn hoá truyền thống trong tấm lòng những người dân thường thôn dã.
Ánh sáng và bóng tối của Hoàng Liên và Ðại học máu của Hà Thúc Sinh đều là hồi ký về trại cải tạo, trong tác phẩm của Hoàng Liên, dòng hồi tưởng lúc nào cũng như lúc nào điềm tĩnh và từ tốn, còn trong tác phẩm của Hà Thúc Sinh giọng văn thường sôi nổi, có khi quyết liệt. Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác và Gió lửa của Nam Dao là hai tác phẩm gần gũi về thể loại (tiểu thuyết lịch sử) và đề tài (thời đại Quang Trung) nhưng rất khác về phong cách. Chỉ nói riêng một điểm: trong Sông Côn mùa lũ, “nghị luận” (còn gọi là “yếu tố chính luận”) chỉ là nửa trang hay nhiều lắm là một trang xen vào truyện; trong Gió lửa “nghị luận” tham gia tích cực vào sự hình thành nội dung và cốt truyện...
(Hoàng Ngọc Hiến – Đọc văn học Việt Nam hải ngoại)

Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội
Chợ tình
Chợ tình Sài gòn: Anh hai có xài em hông
Chợ tình Hà nội: Chơi gái không đại ca

Đất Sài Gòn
Từ năm 1784, theo hải hành đồ của các thương thuyền người phương Tây, với chữ La tinh đã ghi tên vùng Chợ Lớn (cũ) là Saigon.
Theo Trịnh Hoài Đức, dựa trên bản đồ do ông Trần Văn Học vẽ ngày mùng 4 tháng chạp năm Gia Long thứ 14 (1815). Bản đồ ghi trên vùng nhà thương Chơ Rẫy hiện tại ba chữ: Sài Gòn xứ.
Chỗ này chính là Chợ Lớn (cũ).
Sau này Sài Gòn xứ rời lên khu cao hơn ở phía Đồn Đất (nay là nhà thương Grall) vào năm 1836.
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Gió đưa bụi chuối sau hè
Giỡn chơi chút xíu ai dè… có con

Văn hóa mới
Sau năm 75, câu “Tiên học lễ hậu học văn” trong các trường đều bị gỡ bỏ, thay vào bằng câu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”.
- Vê cú pháp, nếu mệnh trước có chữ “vì” thì câu sau phải có chữ “nên”, hay “phải” để bổ túc cho mệnh đề trước.
- Ngoài ra câu què quặt trên, họ mượn của Tầu: “Bách niên chi kế bất như thụ cốc – Thập niên chi kế bất như thụ mộc - “Bách niên chi kế bất như thụ nhân”.
(Nguyễn Thanh Ty – báo Sài Gòn Nhỏ)

Áo bực
Áo bực : áo tang, tang phục
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Câu đố tình tự
Hai nắm lấy khư khư
Bụng thì bảo dạ, rằng ư đút vào
Đút vào nó sướng làm sao
Dập lên dập xuống nó trào nước ra.

Ca dao tình yêu miền Nam
Sự mộc mạc hồn nhiên ở từ ngữ, cách thể hiện dung dị, hóm hỉnh thường thấy trong ca dao tình yêu miền Nam. Đó cũng là biểu hiện tính cách đặc trưng của người dân nơi đây. Trước hết là chất hóm hỉnh không cố tình, qua những từ ngữ mộc mạc, chân thật như không cưới được người mình yêu, không biết trút giận vào đâu, bèn đổ lỗi cho một nhân vật tưởng tượng:
"Quất ông tơ cái trót
Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần
Biểu ông se mối chỉ năm bảy lần, ổng hổng se"
(Đoàn thị Thu Vân – Chất hóm hỉnh trong ca dao miền Nam)

(Giải đáp Câu đố tình tự: Ăn mía)

Chữ và nghĩa: Sài Gòn
Vườn ông Thượng (vườn Bờ-rô hay Tao Đàn): Hoa viên của Tổng trấn Lê Văn Duyệt.
Cầu Hoa (cầu Bông): Tên từ vườn hoa riêng của Tổng trấn Lê Văn Duyệt ở gần đấy.
(Hồ Đình Vũ – Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Diễn giảng
Rất tiếc, không ít người đem cả thói quen diễn giảng ấy vào văn chương. Trong bài viết của họ, mỗi câu văn phải cõng trên lưng nó năm bảy câu giải thích. Chuyện mới, giải thích đã đành. Ngay cả những chuyện xưa như trái đất cũng vẫn giải thích. Lặp lại những kiến thức sơ đẳng và cũ rích, cách viết như thế là một sự xúc phạm đến sự hiểu biết của người đọc. Giọng văn làm nhàm và lảm nhảm, cách viết như thế là một sự xúc phạm đến tính chất thẩm mỹ của văn chương.
(Nguyễn Hưng Quốc – Nhà văn… không là ai)

Giọng Sài Gòn
Qua một bài viết của Sơn Nam về Sài Gòn – Gia Định:
Giọng Sài Gòn, cũng như và con người Sài Gòn là sự pha trộn của nhiều nơi. Đó là người Chàm bản địa, những người Minh Hương và những người miền Trung đến đất Gia Định.
Từ đó hình thành một ngôn ngữ vừa bản điạ, vừa vay mượn của những người đi mở đất khai hoang.
(Người Sài Gòn – báo Sài Gòn nhỏ)

Chữ và nghĩa với địa danh miền Nam
Tên cầu, tên rạch nào đó có từ Bà rất nhiều. Như: rạch Bà Bướm (có tên từ 1902), Bà Cả Bảy, Bà Hom, Bà Tàng, Bà Tà, Bà Lài, Bà Hồng, Bà Lát, Bà Nghiêm, Bà Chủ, Bà Tàng, Bà Thiên, Bà Tiếng, Bà Xếp, Bà Khắc (chiếc cầu xưa ở vùng Cầu Kho), Bà Ký, Bà Lài, Bà Chiểu, Bà Điểm (là tên một bà chủ quán nước chè vùng Hóc Môn) Bà Đô, Bà Thuông, Bà Nhuận, v.v…
(Hồ Đình Vũ - Nguồn gốc một số địa danh miền Nam)

Bà mụ
Bà Hồ Xuân Hương có câu thơ: “Mười hai bà mụ ghét chi nhau – Đem cái xuân tình vứt bỏ đâu”.
Bà mụ, trong tiếng Việt có nhiều nghĩa, một loại bướm nhỏ, ít bay, thường bò đôi một trên cây. Bà mụ, ấu trùng của giống chuồn chuồn. Bà mụ, là người đàn bà đỡ đẻ.
(Nguyễn Hữu Nhật – Tiếng Việt hay quá)

Sự khác nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội
Chợ tình, khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…
Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha…”
Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về?”

Văn hóa cà phê
Dân Sài Gòn bây giờ gọi những hình thức khác nhau của những quán cà phê là "phong cách". Phong cách càng lạ, càng sang trọng, càng thu hút khách. Vẫn còn những quán cà phê vỉa hè, nhưng "phong cách nghèo nàn, bình dân" ấy không phải là đầu đề để dân sành điệu cà phê Sài Gòn chuyện trò bù khú.

Phải là quán cà phê Panorama tọa lạc ở từng thứ 33, từng cao nhất, của Sài Gòn Center. Người ta đến đây không phải để uống cà phê, mà là để mua chỗ ngồi ngắm thành phố từ trên cao chót vót. Hay cà phê Skyview tại tầng thứ 13 của Diamond Plaza (khu gần Vương Cung Thánh Đường), nơi dành cho những vị khách chuộng không gian lịch sự, lặng lẽ. Hoặc cà phê Highlands dưới chân tòa nhà Metropolitan ở đường Tự Do. Chỉ cần ngồi ở đây một hai tiếng đồng hồ, người ta có thể bắt đúng được nhịp tim đập của thành phố. Từ bảnh sáng đến khuya khoắt mịt mù, hiếm khi nào quán vắng khách. Có mặt đủ lọai các celebrities (những người nổi tiếng) ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu, đại gia, công tử, dân chơi v.v… Ở những quán cà phê "đầy phong cách" như thế, không khí của nó là biểu hiện cho một lối sống, chắc hẳn là không thuộc về đại đa số người dân kiếm ăn từng bữa. Vì thế, khi nói về văn hóa cà phê, người ta vẫn phải nhìn vào những nơi tụ họp đông đảo giới lao động cùng với những lo âu, vui buồn bày tỏ trong lúc họ ngồi nhâm nhi ly cà phê với giá cả phải chăng. Xem ra, văn hóa cà phê của Sài Gòn, của Hà Nội cũng không thiếu những đặc trưng cơ bản của văn hóa cà phê thế giới.
(T.Vấn – Văn hóa cà phê)

Áo ức
Áo ức ; bất đắc chí
Cho nên áo ức kém mùi
Đỉnh ngoài đường đắp chơi bời ngâm thơ
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Giọng Sài Gòn
Giọng người Sài Gòn không ngọt như mía lùi như một số người dân Tây Nam bộ ven vùng phù sa sông nước. Không nặng nề cục mịch như người miền Đông Nam bộ nóng cháy da chát thịt. Giọng người Sài Gòn cũng ngọt, nhưng cái ngọt thanh hơn.
Giọng người Sài Gòn không cao như người Hà Nội, không nặng như người miền Trung, mà cứ ngang ngang, sang sảng. Nghe biết liền với… “ổng, bả, ảnh, chỉ”, với mấy từ ở cuối câu…“nghen, hen, hén”.
(Người Sài Gòn – báo Sài Gòn nhỏ)

Những nhà văn nữ miền Nam
Tôi (Trùng Dương Nguyễn thị Thái) tò mò tìm tên các bạn gái viết văn của mình hồi ấy thì thấy Nguyễn thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn “nhà văn nữ giầu tình dục”, Túy Hồng “nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm”, Nguyễn thị Hoàng “nhà văn trẻ của tình lụy”, Thu Vân (?) “nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề”.
Và cá nhân tôi, Trùng Dương “nhà văn hiện thực buông xả” (chữ nghiêng là của tôi, vì tôi không hiểu chữ “xả” đi với “buông” có nghĩa gì).
(Nguyễn Công Khanh – Lịch sử báo chí Sài Gòn)

Chữ Việt cổ
búp gió : hoa chuối
(Phạm Xuân Độ)

Chữ nghĩa làng văn
Cụ cử Nguyễn Văn Tú, người đã tìm ra bản thảo Lưu Hương Ký trong tủ sách gia đình ở Hành Thiện, Nam Định và đã gởi về cho toà báo Văn Sử Địa từ năm 1957. Tập Lưu Hương Ký sau đó đã được chuyển về thư viện của Viện Văn học ở Hà Nội.
Bẩy năm sau, ông Trần Thanh Mại, một chuyên gia văn học, người công bố một số bài, phiên âm sang Quốc ngữ từ Lưu Hương Ký, trong Tạp chí Văn học tháng 3/1963.
Rồi đến học giả Hoàng Xuân Hãn nghiên cứu Lưu Hương Ký trên văn bản những bản phiên âm của Trần Thanh Mại để viết tiểu sử của Hồ Xuân Hương (chứ không được thấy mặt các bản gốc chữ Hán và chữ Nôm trong Lưu Hương Ký).
(Nguyễn Ngọc Bích – Săn lùng hơn 40 năm thi phẩm của HXH)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Con gái, đàn bà toàn diện là:
“Trưa diện, chiều diện, tối diện”.

Chơi chữ
Chơi chữ là dùng phương thức diễn đạt sao cho hai lựơng ngữ nghĩa khác hẳn nhau đựơc biểu đạt bởi cùng một hình thức ngôn ngữ, nhằm tạo nên sự thú vị mang tính chất chữ nghĩa. Càng làm phong phú thêm ngôn ngữ, văn chương Việt Nam .
Chơi chữ trong văn chương:
Hay một câu đố nhân gian, do đám học trò đến thăm thầy đồ, thấy nhà đóng cửa mà bên trong thì nghe có tiếng rúc rích và tiếng giừơng kêu ọt ẹt, các trò bấm nhau cừơi.
Thầy thấy thẹn liền ra câu đối, nếu đối đựơc thì mới mở cửa:
"Sĩ đáo ngọai gia, thầm bất thầm, thì bất thì, thầm thì thầm thì"
Một anh nho sinh mới đối lại:
"Sư ngọa trung phòng, ọt bất ọt, ẹt bất ẹt, ọt ẹt ọt ẹt"

Chữ nghĩa làng văn
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đưa ra tại Paris từ năm 1952 và giáo sư Trần Thanh Mại, đưa ra tại Hà Nội năm 1964, cho rằng: Toàn bộ thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tất thảy đều không phải của Hồ Xuân Hương mà là thơ dân gian của các ông đồ, sáng, nhuận sắc cùng thời với truyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn.
(Nguồn: Trần Nhuận Minh – Vấn đề Hồ Xuân Hương, đã rõ)

Đất lề quê thói với phong tục cổ truyền
Yến lão
Chiếu nhất, một cụ ngồi thì được biếu cả một cỗ gọi là cỗ một, chiếu nhì, hai cụ ngồi là cỗ đôi thì được biếu mỗi cụ một nửa cỗ, những cỗ dưới là đồng hạng cứ bốn cụ một cỗ.
Từ ngàn xưa, những khi có việc làng, không hề có bóng phụ nữ nơi đình trung. Ngày yến, sự hiện diện của các lão bà đem lại cho dân làng một cảm giác đặc biệt vui vể đầm ấm. Mỹ tục yến lão là do đạo hiếu mà ra, một đặc tính dân tộc, có ý nghĩa rất trọng hậu, trẻ vui đạo trẻ, già vui tuổi già, trái ngược hẳn với cái thảm cảnh ở mấy nước văn minh cường thịnh cứ đến tuổi già là bị liệt vào hạng người vô dụng, ăn hại xã hội, con cháu ít chăm nom, người đời lạnh nhạt.
Lúc vãn niên, tóc bạc da mồi, với cuộc sống buồn tẻ nơi thôn dã năm tháng trôi, các cụ hẳn cũng cảm thấy sung sướng đã được cả làng tỏ tình quý trọng, quý trọng rất mực trong cuộc rước đón những buổi yến ẩm, con cháu các cụ thì được hãnh diện là gia đình có phúc mới được tuổi thọ, cho nên nhiều nhà, dù ngèo cũng ráng may sắm cho ông bà đi dự yến. Cụ thì mũ ni nhung đen, áo vóc đại hồng, cụ thì khăn nhiễu tam giang, giầy văn hài, cụ thì áo đoạn huyền quần lụa bạch, có những cụ nhà bần hàn, quanh năm quần nâu áo vải lúc này cũng quần chúc bâu, áo the thâm, áo láng chéo go, dép mới thay quai... Y phục tuỳ hoàn cảnh mỗi nhà, không có lệ định nào, chỉ trừ màu vàng của nhà vua, quan dân đều không được mặc. Trước ngực, dưới vòng dây thao quàng cổ là túi gấm màu lam, màu huyền đựng trầu, thuốc, cối, chày...
Đám rước quan lão, y phục màu sắc như vậy với võng lọng cờ quạt, vừa gợi cảm. Những nhà từ mấy đời không hề có ông cha được dự, không khỏi bùi ngùi tiếc thương người đã khuất, không khỏi thèm muốn ước mong cho gia đình đời nay và đời sau.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ

Dưới đây là bốn câu thơ trong một bài thơ thất truyền của cụ Nguyến Khuyến:
Con gái nhà ai tắm vệ sông
Vú vê để hở váy quai cồng
Ước gì ta được mà ta để…
Ta để mà ta lại… để chung

Đế Gò Đen

Rượu đế Gò Đen, thường được gọi tắt là “Đế Gò Đen”, là tên một loại rượu trắng nổi tiếng của miền Nam. Đây là một loại rượu được nấu từ gạo, hoặc nếp mỡ, nếp than, theo phương pháp cổ truyền, sản xuất ở địa danh Gò Đen, Bến Lức, tỉnh Long An.
Đây là một loại rượu đế có nồng độ cồn rất cao, có thể lên đến 50 độ cồn, như rượu Mao Đài của Tàu, đế Gò Đen được nhấn mạnh về vấn đề thổ nhưỡng, nên để có một sản phẩm ngon, đế Gò Đen phải được nấu tại vùng Gò Đen. Theo truyền thống đế Gò Đen được nấu từ gạo. Tuy nhiên, ngày nay những người sành rượu thường rất chuộng loại đế Gò Đen được nấu từ gạo nếp. Loại rượu gạo này rất nhiều địa phương ở Việt Nam nấu, chất lượng cũng khác nhau tùy vùng như rượu nếp, rượu nếp than.
"Rượu Đế Gò Đen xưa và nay (rượu nếp than, rượu nếp trắng, rượu chuối hột) đã nổi tiếng "đệ nhất tửu".

Ca dao tình tự
Kho tàng ca dao với 12.487 bài thì chỉ có 242 bài nói đến tình yêu ngoài vòng lễ giáo.
(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Chữ nghĩa làng văn xóm chữ
Thê thảm nhất là anh Nguyễn Mạnh Côn chết ở Trại Cải Tạo Xuyên Mộc. Anh Côn bị bắt tháng ba 1976. Tôi vào Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu sau anh. Năm 1977 tôi chỉ nhìn thấy anh vài lần khi tôi nằm Biệt Giam - Sà lim số 20 Khu B, Nhà Tù Số 4 Phan Đăng Lưu, anh ở Phòng Tập Thể số 1 cùng Khu B. Rồi anh bị đưa lên Trại Xuyên Mộc, Bà Rịa. Năm 1980 khi từ nhà tù trở về lần thứ nhất tôi được tin anh đã mất ở Xuyên Mộc. Nghe nói khi ở tù được ba năm, anh Côn tự cho là bản án tù của anh đã mãn, anh tuyệt thực đòi bọn Việt Cộng phải trả tự do cho anh. Anh Côn không ăn, chúng không cho anh uống nước luôn. Anh Côn là người chết tức tưởi, khổ sở, bi thương nhất trong số anh em tôi đã chết sau năm 1975. Thân xác anh nằm lại vùng rừng già Xuyên Mộc.
Năm 1986 anh Hiếu Chân Nguyễn Hoạt chết trong nhà tù Chí Hòa. Anh bị cao áp huyết. Phòng giam quá đông người nên quá ồn ào, rối tinh rối mù như trong ổ kiến. Những ông già bị tù cao áp huyết thường không chịu nổi cảnh loạn xạ bát nháo từ sáu giờ sáng đến mười giờ đêm trong phòng giam chật ních người, các ông thường lặng lẽ ra đi vào lúc nửa đêm.
(Tháng bảy vào thu mưa lạnh bay – Hoàng Hải Thủy)

Thiền ngôn lơ mơ lỗ mỗ
(…trích lục lại)

Lúc bé mong mình lớn, giờ đây lớn rồi sao mong mình bé lại quá chừng.

Ca dao tình tự
Nói đến đồng tính luyến ái
Đàn ông nằm với đàn ông
Như gốc, như gác, như chông như chà
(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Những sai lầm tai hại trong hai quyển Từ điển từ và ngữ Việt Nam và Từ điển từ và ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân.
nghĩa cử 義舉
Trong từ này, soạn giả giải thích rằng, nghĩa tức là việc phải nên làm, là hào hiệp; cử nghĩa là cất lên, là làm việc, và, nghĩa cử là việc làm vì nghĩa. Nếu căn cứ theo lời giảng giải về các từ tố thì nghĩa cử phải là làm việc một cách hào hiệp hoặc làlàm cái việc nên làm. Chúng ta thấy ông giảng đúng nghĩa của từ nghĩa cử, đó là một danh từ nên từ tố cử ở đây không thể là động từ như ông đã giảng giải, bởi vì nó cũng là một danh từ! Soạn giả phạm sai lầm ở chỗ, ông không hiểu nghĩa của chữ cử 舉 ở đây. Ngoài các nghĩa như soạn giả đã nêu, chữ cử 舉 còn có nghĩa là việc làm, và đó chính là nghĩa cụ thể ở đây. Còn chữ nghĩa 義 thì có nghĩa là hợp với đạo lý. Do đó,nghĩa cử nghĩa là việc làm hợp với đạo lý.
(Lê Mạnh Chiến & H.H.Phúc)

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
Cha ông xưa đúc kết được kinh nghiệm sống và truyền khẩu cho đời con cháu mai sau qua ca dao và thành ngữ... Nay con cháu mai sau đời sau chế tác "lung tung, trống kèn" những thành ngữ, danh ngôn cho riêng họ:
• Bầu ơi thương lấy bí cùng, mai sau có lúc... nấu chung một nồi.

Chữ nghĩa làng văn
Một lần là tởn tới già
Chớ đi nước mặn mà hà ăn chân!
Câu trên này dân gian đặt ra để tự cảnh cáo lấy mình, đã khờ dại đi vào cạm bẫy của người ta, bị thất thu thua lỗ, tróc vẩy trầy da, “chu choa” là dại, cũng chỉ vì nghe lời đường mật, hoặc tự mình dấn thân, không biết suy tính lợi hại, để đến nổi phải gánh chịu những hậu qủa ê chề đau đớn. Lúc bấy giờ mới rút kinh nghiệm, tuy đã muộn màng sẽ không dại gì mà làm lại như vậy nữa.
Nghĩa đen của câu này, và đặc biệt là nơi vế hai, có nói tới nước mặn và hà ăn chân. Ai ở miền biển, có tụ tập ghe thuyền nhiều, đều biết một giống vật nhỏ bé, tên là con hà, tên Pháp là taret, hơi giống con gián nhưng nhỏ bé, hình lép, có răng nhọn, chuyên đục đẽo ghe thuyền gỗ mà ăn với bọt nước biển. Cho nên cứ đến mùa nắng ráo, thì đám dân chài lật ngược thuyền, thắp đuốc huí gỗ khắp châu thân phía ngoài, để tiêu diệt những con hà đó.
Dân chài nước ta từ thời xa xưa, vốn là dân miền duyên hải và hải đảo, đã nắm vững kỹ thuật tạo tác ghe thuyền. Muốn cho gỗ ráp lại được dính chặt với nhau, và nước không thấm vào bên trong, họ đã vào rừng tràm (melaleuca leucadendron), tước vỏ mềm như điền điển (liège) đem về nhét vào chỗ hai tấm gỗ, lấy búa mà gõ nơi giáp mối, làm thế nào cho miếng vỏ tràm bị kẹt cứng vào giữa hai thành gỗ. Lúc thuyền được ráp xong rồi, thì dân chài lấy chất nhựa (sève, résine) của cây dầu (dipterocarpus alatus), phết trét mấy lớp phía ngoài ghe và một lớp phiá trong, để cho ghe được hoàn toàn “chấn nước” (imperméable, waterproof).
Trở về con hà, thật sự nó không moi chân của dân chài mà ăn, như ăn gỗ ghe vậy đâu! Nhưng mà nước mặn vốn có chất chlore và thấm nhiều chất iode và calcium, ba thứ ấy mà thấm vào bàn chân và các ngón chân, lâu ngày trải qua nhiều năm tháng, sẽ bị moi chợt như mặt rỗ, mà thiên hạ xem như bị hà ăn chân!
(Thái Văn Kiểm – Kho tàng tiếng Việt)

Lẹt
Lẹt : không đủ sức
(nổ lẹt đẹt)
(Tự điển tiếng Việt cổ - Nguyễn Ngọc San, Đinh Văn Thiện)

Giai thoại làng văn xóm chữ
Lấy tử vi cho cái quạt
Vào một ngày mùa hạ, bà trạng đi chợ mua về cho cụ trạng Nguyễn Bỉnh Khiêm một cây quạt giấy. Trạng tính ngày giờ, rồi lấy cho cây quạt một lá số tử vi. Trạng đoán ra cái ngày… cái quạt chết. Trạng lại nghĩ:
- Nếu để dùng lâu ngày nó sẽ rách hoặc thất lạc đi, như vậy "cái ngày chết" của nó ắt sẽ xảy ra và xảy ra bình thường. Nếu đúng nó có số thật, không ai có thể ngăn cản được, thì sao ta chẳng mang cất nó đi, để xem tới ngày ấy, nó có chết thật hay không?
Nghĩ thế, nên trạng Trình treo nó lên chỗ kín đáo nhất. Tới ngày, cây quạt vẫn còn nguyên. Hôm đó, suốt từ sáng tới chiều, trạng Trình cứ ở nhà, quanh quẩn ở nơi để quạt, xem nó chết ra sao. Vừa lúc ấy, có khách đến mời trạng sang ăn giỗ, ông từ chối không đi, cho rằng trạng giận việc gì nên đánh tiếng nhờ bà trạng. Từ sáng, thấy cử chỉ kỳ dị của chồng, bà trạng đã chướng mắt lắm rồi, nên khi được khách cậy nhờ, bà liền đốc thúc trạng:
- Ông ở nhà làm gì, người ta nghĩ tình nên sang mời, mà ông nỡ từ chối. Tôi mua quạt về cho ông dùng, chớ đâu phải để ông mang cất đi, rồi cứ ra vào mà phủi bụi cho nó như đầy tớ thế.
Vừa nói, bà trạng vừa giật lấy cây quạt xé nát tan ra từng mảnh vụn. Thấy vậy, trạng cười nói:
- Ra là thế. Cuối cùng thì ta đã biết được nó chết thế nào.
Rồi mặc cho bà trạng đứng ngẩn người ra không hiểu, trạng khăn áo chỉnh tề đi sang nhà người khách lúc sáng để ăn giỗ.

Chữ nghĩa lơ mơ lỗ mỗ
(…trích lục lại)
Hai vợ chồng: Không phải là hai vợ, một chồng.
Mà chỉ có một vợ, một chồng thôi.
(Nguồn: từ sổ tay của một người Mỹ học tiếng Việt)

“Từ điển” của một người Bắc vào Nam sau 75
(Chữ nghĩa làng văn giữ nguyên chữ và câu cú, không…”nát bàn” với lời bàn Mao Tôn Cương)
Buột = cột
Bữa = buổi/từ đó tới nay
(ăn bữa cơm rồi về/bữa giờ đi đâu mà hổng thấy qua chơi?)
Cà chớn cà cháo = không ra gì
(Nhớ đâu viết đấy… - Nguyễn Văn Trường)

Giai thoại làng văn
Bài tuỳ bút nhan đề Phở của Nguyễn Tuân được đăng lần đầu ngay ở số 1 (10/5/1957) và đăng phần tiếp ở số 2 (17/5/1957) của tuần báo Văn. Xin nhớ tuần báo Văn chỉ hiện diện trong làng báo Hà Nội từ 10/5/1957 đến 17/1/1958, chấm dứt ở số 37, với lý do tạm dừng để kiểm điểm, và trên thực tế là dừng lại vĩnh viễn.
Hơn 4 tháng sau, sau đợt tập trung chống Nhân văn - Giai phẩm, bộ máy Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật VN và Hội Nhà văn VN được chấn chỉnh lại, Hội Nhà Văn mới xuất bản tờ Văn học với định kỳ ban đầu 10 ngày/ 1 số (“tam cá nguyệt san”), đánh số từ 1, thư ký toà soạn là Nguyễn Đình Thi, tuyên bố là tờ báo mới, “mới cả về tinh thần lẫn tên gọi”, tức là không vương vấn gì với tờ tuần báo đã đăng Phở, Tiếng bạc cuối cùng (truyện của Hồ Dzếnh), Phòng số 6 (truyện dịch của Chekhov), Lời mẹ dặn (của Phùng Quán), Đống máy (của Minh Hoàng), Ông Năm Chuột (của Phan Khôi), v.v…, tờ tuần báo đã bị tạp chí Học tập và tạp chí Văn nghệ phê phán nghiêm khắc nhưng không chịu tiếp thu, cuối cùng bị ngừng lại mãi mãi.
(Lại Nguyên Ân - Những hư cấu văn học sử cần đính chính)

Tiếng Việt trên net
ko = không
lém = lắm
muh = mà
(Nguồn: Gio-o.com)

Ca dao tình tự
Nói đến đồng tính luyến ái
Đàn bà nằm với đàn bà
Như lụa, như lĩnh, như hoa trên cành
(Bùi Kim Chi – Khảo luận về ca dao dân ca)

Câu đố
Xét trong quan hệ với vật đố, tức cách biểu thị vật đố ra sao, hình ảnh ở lời đố thường được sử dụng theo thiên can. Dùng thiên can để miêu tả vật có sử dụng lửa. Một số vật có sử dụng lửa, thì hay dùng thiên can (giáp, ất, bính, đinh, mậu, kỉ, canh, tân, nhâm, quý), có thể một số hay tất cả, để miêu tả. Thí dụ:
“Da trắng như màu thiếc
Ruột rối như rau câu
Bính đinh hoả đánh trên đầu,
Nhâm quý thuỷ thân đằng đít”
(Điếu thuốc)
Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố cho thấy thể loại này là sự mới mẻ, lạ thường. Những hình ảnh được tạo nên bởi lối nhân hoá (hay động vật hoá, thực vật hoá...), và cách tả thực. Do góc nhìn không bình thường, có khi dùng hình thức đánh tráo các quan hệ ngữ pháp, nên tạo ra những vật dị kì. Những cách miêu tả như vậy chỉ có và được chấp nhận trong câu đố, tạo cho thể loại này một phong cách rất riêng.
(Triều Nguyễn - Cách sử dụng hình ảnh trong câu đố)

Chữ nghĩa làng… nhậu
Rượu lưu li chân quỳ tay rót
Cha mẹ uống rồi nối gót theo anh.

(còn tiếp)

 

Đăng ngày 03 tháng 06.2018