Đảng Dân Chủ và thói quen giấu bệnh ứng viên

Vô Danh

Hai câu nói của bà Jill Biden
Đêm 27 tháng 6 năm 2024, ngồi xem chồng tranh luận với ông Trump, bà Jill Biden nghĩ thầm: "Trời ơi, ông ấy đang bị tai biến." Tranh luận vừa xong, bà bước lên sân khấu khen chồng đã trả lời được mọi câu hỏi và nắm vững mọi dữ kiện (TNND).
Câu thứ hai bà nói giữa công chúng. Câu thứ nhất bà giữ kín gần hai năm, đến khi đi quảng bá cuốn hồi ký View from the East Wing mới kể ra.
Hai câu nói ấy gói trọn cách đảng Dân Chủ đối xử với sức khỏe ứng cử viên của mình: người trong nhà biết trước, cử tri biết sau.
Tuần rồi, vở kịch cũ lại lên màn ở Texas. Tại cuộc mít-tinh của Tổng Thống Trump ở San Antonio ngày 7 tháng 10, Tổng Chưởng Lý Texas Ken Paxton dẫn đám đông hô to: "Talarico ở đâu?" (Dallas Express). Ứng cử viên Thượng Viện của đảng Dân Chủ lúc ấy đã gần hai tuần không xuất hiện trước cử tri Texas.
Ngoài một lần nói chuyện qua video hôm 30 tháng 9 để báo mình bị cúm, mọi lời giải thích sau đó đều do phát ngôn viên đưa ra. Lời trấn an thì nhiều, còn bản thân ứng cử viên thì vắng bóng.
Ba lần trước, với Eagleton, Fetterman và Biden, sự thật về sức khỏe ứng cử viên đều đến tay cử tri sau cùng. Lần này đảng Dân Chủ lại chọn lối cũ.

Mười tám ngày năm 1972
Vở kịch ấy có từ năm 1972. Ngày 12 tháng 7, George McGovern vừa đoạt đề cử tổng thống của đảng Dân Chủ thì Thượng Nghị Sĩ Ted Kennedy từ chối đứng chung liên danh (NPR). Phe McGovern quay sang chọn Thượng Nghị Sĩ Thomas Eagleton của Missouri vào phút chót.
Chiều 13 tháng 7, một phụ tá cao cấp của McGovern hỏi Eagleton trong quá khứ có điều gì có thể làm liên danh xấu hổ không, và Eagleton trả lời là không. Ông giấu chuyện mình từng ba lần nằm bệnh viện vì trầm cảm, hai trong ba lần ấy phải chữa bằng điện giật (New York Times, qua HNN).
13 ngày sau, khi giới chính trị và báo chí đã xì xào khắp nơi, Eagleton mới chịu thừa nhận. McGovern tuyên bố đứng sau người cùng liên danh "một ngàn phần trăm", rồi đến ngày 31 tháng 7 thì Eagleton bị ép rút lui (NPR).
Ai đã chọn Eagleton? Cử tri không hề được hỏi. Trớ trêu thay, chính McGovern là người đã cải tổ để đưa việc chọn ứng cử viên ra khỏi những cuộc mặc cả hậu trường, vậy mà người đứng chung liên danh với ông lại được chọn vội vàng, không ai xét kỹ quá khứ (NPR).
Người ta thường nhớ vụ Eagleton như một tai nạn trong việc chọn người. Người viết nhớ nó như bài học đầu tiên của đảng Dân Chủ về sức khỏe ứng cử viên: hỏi thì chối, đến khi báo chí nắm đủ mới nhận.

Pennsylvania, 2022
50 năm sau, đảng Dân Chủ Pennsylvania đề cử một người vừa bị tai biến mạch máu não bốn ngày trước ngày bầu cử sơ bộ.
John Fetterman bị tai biến ngày 13 tháng 5 năm 2022, hai ngày sau mới báo tin trên mạng xã hội. Ngày 17 tháng 5 ông thắng sơ bộ khi đang nằm bệnh viện, chỉ vài giờ sau ca mổ gắn máy điều hòa nhịp tim kèm bộ khử rung (AP, qua WHYY).
Suốt hơn hai tuần, câu hỏi vì sao phải gắn bộ khử rung vẫn bị bỏ lửng. Đến ngày 3 tháng 6, bác sĩ tim mạch của ông mới công bố ông mắc bệnh cơ tim, và chính Fetterman thừa nhận đã bỏ mặc chẩn đoán bệnh tim từ năm 2017 đến suýt mất mạng (AP, qua WHYY).
Cùng tuần ấy, phát ngôn viên của ông còn quả quyết bác sĩ thần kinh thấy ông "hoàn hảo" về nhận thức, dù chính vị bác sĩ ấy chưa hề nói chuyện với báo chí. Cử tri Dân Chủ Pennsylvania đã bỏ phiếu cho ông trước khi biết những điều ấy.
Tháng 2 năm 2023, mới vào Thượng Viện chừng một tháng, ông phải nằm Bệnh Viện Quân Y Walter Reed sáu tuần để chữa trầm cảm lâm sàng (AP, qua NBC New York).
Tháng 5 năm 2025, tạp chí New York Magazine đăng lời kể của chính nhân viên cũ và đương nhiệm của ông. Cựu Chánh Văn Phòng Adam Jentleson từng gửi điện thư cho vị bác sĩ đã điều trị ông ở Walter Reed, báo động chuyện ông bỏ tái khám và lái xe liều lĩnh. Tờ báo còn cho biết trong tam cá nguyệt đầu năm 2025, ông vắng mặt trong nhiều cuộc biểu quyết hơn bất cứ thượng nghị sĩ nào (Philadelphia Inquirer).
Fetterman gạt đi, gọi những người lên tiếng là nhân viên bất mãn, và không trả lời khi được hỏi có dùng thuốc đầy đủ hay không (Philadelphia Inquirer). Ngay cả Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Peter Welch, bạn thân của ông, cũng nói mình lo cho Fetterman (NOTUS).
Năm 2022, chiến dịch bảo cử tri rằng ông đang trên đà bình phục hoàn toàn. Ba năm sau, tiếng chuông báo động lại vang lên từ chính văn phòng của ông.

Cuộc che giấu lớn nhất
Vụ Biden là cuộc che giấu lớn nhất, và giờ đây chính người Dân Chủ cũng thừa nhận ông không nên ra tranh cử.
Tháng 2 năm 2024, Công Tố Viên Đặc Biệt Robert Hur quyết định không truy tố ông Biden trong vụ tài liệu mật, và viết rằng bồi thẩm đoàn có thể sẽ thấy ông là "một ông lão có thiện ý nhưng trí nhớ kém" (Semafor). Theo bản phúc trình, ông không nhớ nhiệm kỳ phó tổng thống của mình bắt đầu và kết thúc năm nào, cũng không nhớ nổi con trai Beau mất vào khoảng năm nào.
Đồng minh của ông Biden và các nhà lập pháp Dân Chủ gạt phắt bản phúc trình (Semafor). Theo cuốn Original Sin của hai ký giả Jake Tapper và Alex Thompson, luật sư Tòa Bạch Ốc còn gây áp lực buộc Bộ Tư Pháp gỡ bỏ những nhận xét về trí nhớ ấy (Publishers Weekly).
Ngày 17 tháng 6, mười ngày trước cuộc tranh luận, phát ngôn viên Tòa Bạch Ốc Karine Jean-Pierre gọi những đoạn video lan truyền về ông Biden là "đồ giả rẻ tiền" tung ra với ác ý (AllSides). Mười ngày sau, cả nước xem ông trực tiếp trên truyền hình, không ai cắt xén được gì.
Đêm ấy, trong lúc Đệ Nhất Phu Nhân thầm nghĩ chồng mình bị tai biến, chiến dịch đổ cho cơn bệnh và lịch trình dày đặc (TNND). Ông Biden chỉ chịu rút lui ngày 21 tháng 7, sau nhiều tuần bị chính đồng minh dồn ép (AP, qua The Peninsula).
Cuốn Original Sin mô tả một tổng thống được che chắn đến mức nhiều thành viên Quốc Hội gặp ông ở tiệc Giáng Sinh tháng 12 năm 2022, rồi phải đến tháng 12 năm 2023 mới thấy lại ông bằng xương bằng thịt, và họ bàng hoàng. Một nguồn tin nói với hai tác giả rằng nhiệm kỳ ấy, khá lắm, chỉ là một hội đồng quản trị năm người với ông Biden ngồi ghế chủ tịch (NPR).
Tháng 9 năm 2025, trong cuốn 107 Days, chính bà Kamala Harris viết về chuyện để vợ chồng ông Biden tự quyết việc tái tranh cử: "Nhìn lại, tôi nghĩ đó là sự liều lĩnh." Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Chris Murphy nói ông không chút nghi ngờ rằng ông Biden đã suy giảm nhận thức khi còn tại chức, còn Dân Biểu Ro Khanna nhận rằng đảng đã sai khi ủng hộ ông tái tranh cử (TNND).
Texas, tháng 10 năm 2026
Hãy xem lại lịch trình của ông Talarico. Ngày 28 tháng 9, ông dự buổi gây quỹ ở New York với tài tử Robert De Niro. Tối hôm sau ông vào phòng khám khẩn cấp ở Dallas, và ngày 30 ông nói chuyện qua video, báo mình bị cúm (Texas Tribune, qua States Newsroom).
Từ đó đến chiều 9 tháng 10, ông không xuất hiện trước công chúng lần nào. Trong khoảng ấy, một đài Fox địa phương xin phỏng vấn ông qua Zoom để chứng tỏ ông vẫn ổn, và bị từ chối (Daily Wire).
Ngay cả chiến lược gia Dân Chủ Dan Turrentine cũng than rằng lẽ ra ban tham mưu của ông phải tung ra một thứ gì đó, dù chỉ là một tấm ảnh. Chủ tịch đảng Dân Chủ Texas Kendall Scudder thì nhận tình hình chắc chắn không lý tưởng, còn tình nguyện viên của ông lo lắng với nhau trong nhóm trao đổi nội bộ (Daily Wire).
Khoảng trống ấy sinh ra tin đồn. Ngày 9 tháng 10, ông Spencer Pratt, cựu ứng cử viên thị trưởng Los Angeles, viết trên mạng X rằng "nguồn tin" của ông cho biết Talarico đang ở một nơi điều trị tâm thần (TNND, qua CBS Austin).
Chiều hôm đó, sau mấy ngày phe Cộng Hòa đòi "bằng chứng còn sống", ông Talarico bất ngờ xuất hiện ở lễ hội nhạc Austin City Limits mà không báo trước. Phát ngôn viên của ông lập tức mỉa mai những kẻ tin thuyết âm mưu (Texas Tribune, qua States Newsroom).
Chiến dịch nói đó là cúm. Điều đáng bàn là sau vụ Biden, đảng Dân Chủ không còn được hưởng lòng tin mặc nhiên của cử tri. Câu hỏi "Talarico ở đâu?" của ông Paxton vì vậy là câu hỏi chính đáng, và một tấm ảnh hay một cuộc phỏng vấn qua Zoom là cái giá rẻ nhất để trả lời.

Vì sao kịch bản cứ lặp lại
Đảng Dân Chủ hay nói ứng cử viên của họ do cử tri chọn. Cử tri chỉ chọn được trên những gì người ta cho họ biết.
Năm 1972, cử tri không được hỏi ý kiến về Eagleton. Năm 2022, cử tri Pennsylvania bỏ phiếu trước khi biết bệnh tim của Fetterman. Năm 2024, Dân Biểu Dean Phillips, người đang ra tranh đề cử với ông Biden, nói thẳng rằng bản phúc trình Hur chỉ xác nhận điều phần đông người Mỹ đã biết: ông Biden không thể làm Tổng Tư Lệnh thêm một nhiệm kỳ nữa. Vậy mà các nhà lập pháp Dân Chủ vẫn đứng sau ông (Semafor).
Vì sao họ che chắn đến phút chót? Theo lời giới thiệu sách của nhà xuất bản, ông Biden, gia đình và các phụ tá thân cận tin chắc chỉ có ông mới thắng được ông Trump, nên họ dối công chúng, và dối cả chính mình, về tình trạng của ông (CNN, qua KRDO). Bà Harris thì kể rằng bà ở vị thế tệ nhất để khuyên ông rút lui, vì sợ bị xem là bất trung (TNND).
Người biết sớm nhất luôn là người mất nhiều nhất nếu ứng cử viên ngã ngựa. Phụ tá mất chức, giới bảo trợ tài chánh mất khoản đã bỏ ra, nên họ chọn im lặng.
Cách đối phó khi bị chất vấn cũng giống nhau đến lạ. Năm 1972 là lời hứa "một ngàn phần trăm". Năm 2024, video về ông Biden bị gọi là đồ giả rẻ tiền. Năm 2025, nhân viên cũ của Fetterman bị gọi là bất mãn, còn năm nay ai thắc mắc về Talarico thì bị gọi là kẻ tin thuyết âm mưu.
Nói đảng Dân Chủ chỉ cởi mở hơn nên chuyện mới lộ ra nhiều hơn là nói ngược với hồ sơ. Trong các vụ Eagleton, Fetterman năm 2022 và Biden, sự thật đến muộn và đến từng mảnh.
Báo chí dòng chính cũng có phần. Chính Jake Tapper của CNN, người điều hợp cuộc tranh luận năm 2024, thừa nhận báo chí truyền thống đã chậm chân với câu chuyện sức khỏe của ông Biden, trong khi báo chí bảo thủ thì không (NPR).

Bệnh tật dễ được tha, dối trá thì khó
Người Mỹ chưa bao giờ đòi tổng thống của mình phải là người không bệnh tật. William Herndon, người hùn văn phòng luật với Lincoln, tả nỗi u uất của ông như nhỏ giọt theo từng bước chân. Sử gia Joshua Wolf Shenk viết rằng giới y khoa ngày nay đều đồng ý đó là bệnh trầm cảm, vậy mà Lincoln vẫn vào được Tòa Bạch Ốc (HNN, trích The Atlantic).
Cử tri Missouri cũng hai lần đưa Eagleton trở lại Thượng Viện sau năm 1972 (NPR). Họ tha cho bệnh tật. Cái làm Eagleton mất chỗ trong liên danh là chữ "không" ông nói chiều 13 tháng 7.
Lằn ranh nằm ở hai điều: ứng cử viên có kham nổi công việc trước mắt công chúng hay không, và cử tri có được biết sự thật trước khi bỏ phiếu hay không. Đảng Dân Chủ đã nhiều lần bước qua lằn ranh thứ hai.
Phán quyết của người viết: thói quen ấy có thật. Đảng Dân Chủ coi sức khỏe ứng cử viên như bí mật nội bộ, trong khi đó là điều cử tri có quyền được biết. Cử tri Texas, và cử tri khắp nước Mỹ, có quyền đòi hai thứ: hồ sơ y tế khi có nghi vấn, và sự hiện diện bằng xương bằng thịt trước công chúng.
Tối thứ Tư này, ông Talarico sẽ lên sân khấu của CNN ở Fort Worth (Dallas Express). Trước khi vỗ tay, cử tri nên nhớ đêm 27 tháng 6 năm 2024. Người trong nhà biết trước, cử tri biết sau.

Nguồn tham khảo:
1. TNND qua KATV, 1/6/2026: Jill Biden says she feared Joe Biden was having a stroke during June 2024 debate
2. Dallas Express, 9/10/2026: Where Is James Talarico? Paxton and Trump press Democrat over campaign absence
3. NPR, 7/3/2007: The Eagleton Fiasco of 1972
4. New York Times qua History News Network, 5/3/2007: Thomas F. Eagleton, Briefly a Running Mate, Dies
6.. TNND qua KATV, 11/9/2025: Harris says Biden's decision to run for reelection was recklessness
7.. Texas Tribune qua States Newsroom, 9/10/2026: James Talarico returns to campaign trail at ACL festival
8.. Daily Wire, 9/10/2026: Rumors swirl about Talarico's mental state as flu excuse collapses 13 days into absence
9. TNND qua CBS Austin, 9/10/2026: Spencer Pratt says he was told Democratic candidate Talarico is in mental health facility
10. CNN qua KRDO, 26/2/2025: New book on Biden by Jake Tapper and Alex Thompson reports a cover-up about his decline.
Vô Danh
https://www.facebook.com/vo.danh.912956


Lăng Ba Đình

Vô Danh

Lăng Ba Đình, tên chính thức là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngồi chềnh ềnh ở phía tây quảng trường Ba Đình. Khối đá hoa cương xám ấy cao 21,6 mét, mỗi cạnh 41,2 mét. Người học phong thủy đứng trước nó thường chột dạ, và lý do chẳng dính dáng gì tới vẻ trang nghiêm.
Ngôi lăng phạm phép xưa ở ba chỗ: đất đặt lăng, dáng lăng, và cái thi hài nằm bên trong. Bài này xét ngôi lăng theo phong thủy và theo lề lối tang ma của người Việt.

Đất Ba Đình
Quảng trường Ba Đình nằm sát hoàng thành Thăng Long cũ, vùng đất các triều Lý, Trần, Lê từng dựng cung điện. Người xem phong thủy coi chỗ này là trung cung của long mạch Thăng Long, nơi khí từ sông Hồng, sông Tô Lịch và Hồ Tây hội về.
Năm 1010, Lý Công Uẩn xuống chiếu dời đô ra thành Đại La, vì đất ấy có thế "rồng cuộn hổ ngồi". Theo phép phong thủy, dựng gì trên một đất như thế cũng phải thuận khí, nghĩa là để khí đi cho thông, không chặn, không đè.
Năm 1973, ngay trên vùng đất ấy, người ta khởi công khối bê tông cốt thép nặng hàng ngàn tấn, đặc kín, không một ô cửa sổ. Tháng 8 năm 1975 lăng khánh thành. Từ đó nó ngồi trên huyệt Thăng Long như một tảng đá đè lên ngực người đang thở.
Đặt một vật nặng, đặc, kín lên huyệt, nhà phong thủy gọi là trấn yểm. Tương truyền hơn một ngàn một trăm năm trước, Cao Biền đã yểm đất này: đóng cọc sắt, chôn bùa, đè đá lên các huyệt cho đất khỏi sinh người tài, rồi cũng không yểm nổi. Cao Biền chỉ có cọc với bùa. Lăng thì có hầm ngầm, móng sâu, bê tông đổ dày hàng mét.
Chọn đúng chỗ ấy là tình cờ hay cố ý? Một chính quyền vô thần, không tin phong thủy, có thể chỉ vô tình đặt lăng lên huyệt. Cũng có thể trong số cố vấn Liên Xô, Trung Quốc có người biết chuyện và cố tình chọn huyệt mà yểm.
Người viết không có giấy tờ gì để trả lời câu ấy. Phong thủy thì không hỏi tới ý định: đá đã đặt lên huyệt thì huyệt phải mang, người đặt tin hay không tin cũng thế.

Cái hộp đá xám
Nhìn từ xa, lăng là một khối hộp xám đặt trên bệ thấp, mặt tiền có hàng cột vuông. Lăng không có mái cong, cũng chẳng có rồng phượng hay hoa văn gì của nhà cửa người Việt. Mỗi lần nhìn, người viết lại nhớ tới mấy nhà tắm công cộng thời La Mã, cũng khối nặng cột vuông, cũng mặt đá lạnh lẽo, chỉ nhỏ hơn.
Giống hơn nữa là lăng Lenin ở Quảng trường Đỏ. Giống là phải, vì lăng Ba Đình lấy mẫu từ lăng Lenin, do kiến trúc sư Liên Xô Garol Isakovich thiết kế.
Đẹp xấu là chuyện con mắt, cãi mãi không xong. Điều đáng bàn là một ngôi mộ dựng giữa Thăng Long, ngay trên long mạch, mà không mượn của đất này một nét nào. Nó như một bộ phận khác nhóm máu bị ghép vào cơ thể đang sống của kinh đô.
Nhà phong thủy xét một công trình qua mấy chữ quen thuộc: thuận khí, tụ khí, sinh khí. Muốn thuận khí thì phải có lối cho khí đi, mà khối bê tông này kín bung, không cửa sổ, không gió trời. Bên trong, máy lạnh chạy suốt ngày đêm, khí trời bị thay bằng khí máy, phép xưa gọi là nghịch khí.
Tụ khí là giữ cho khí dừng lại. Mái đình Việt cong vút ở bốn góc, hứng khí trời rồi uốn vào trong. Lăng chỉ có mặt phẳng với góc vuông, không mái cong, không hiên, nên khí chạm tường là dội ra.
Sinh khí cần cây với nước. Thân lăng toàn đá với bê tông, tức toàn hành Kim với hành Thổ. Trước mặt là quảng trường dài 320 mét, rộng 100 mét, chia thành những ô cỏ xén vuông với lối đi thẳng băng, không có lấy một mặt nước.
Chỗ ấy hợp cho duyệt binh. Khí đến đó không có gì giữ lại, chỉ tản đi. Xét công năng thì cái hộp đá ấy là một phòng bảo quản hóa chất, ốp đá cho ra dáng đài tưởng niệm.

Chuyện ướp xác
Kiến trúc đẹp xấu còn cãi nhau được. Ướp xác thì khác, vì nó đụng tới cách người Việt nghĩ về cái chết.
Nhà Phật gọi thân người là tứ đại giả hợp: đất, nước, gió, lửa tạm gom lại thành hình, chết thì tan về chỗ cũ, còn thần thức theo nghiệp mà đi. Đức Thích Ca nhập diệt cũng được hỏa táng. Tang lễ nhà Phật vì thế thường là đốt, hoặc chôn cho thân tự rã.
Người Việt sợ nhất cho người chết là cảnh không siêu thoát, vong lang thang không nơi nương tựa. Bao nhiêu lễ lạt sinh ra để tránh cảnh ấy: cầu siêu, cúng thất, cúng bốn mươi chín ngày, ba năm mãn tang, rồi bốc mộ cải táng. Các lễ ấy đưa người chết đi theo một chiều, rời khỏi cái xác.
Ướp xác đi ngược chiều ấy. Thân được giữ bằng hóa chất cho khỏi rã, thì theo lẽ vừa nói, thần thức cũng bị níu lại bên cái xác. Nói nôm na, buồng kính ở Ba Đình là nhà giam một vong hồn, xây bằng công nghệ Liên Xô.
Đạo gia coi người sinh ra từ khí trời đất, chết thì trả khí về trời đất. Giữ xác lại là giữ cái đáng phải trả, chặn đường khí luân chuyển.
Nhà Nho dạy giữ thân: "Thân thể phát phu, thụ chi phụ mẫu, bất cảm hủy thương, hiếu chi thỉ dã", thân thể tóc da nhận của cha mẹ, không dám hủy hoại, ấy là khởi đầu của chữ hiếu. Nhưng giữ thân là giữ lúc sống. Chết thì nhập quan, chôn cho đúng lễ, trả về cho đất. Từ Lý, Trần, Lê đến Nguyễn, chưa triều nào ướp xác vua để bày ra cho người xem.
Tin rằng linh hồn cần cái xác nguyên vẹn để sống ở thế giới bên kia là tín ngưỡng của Ai Cập cổ. Tín ngưỡng người Việt xoay quanh đầu thai và siêu thoát, mà cả hai đều cần cái xác buông ra. Đem lối ướp xác theo mẫu Lenin đặt vào giữa Thăng Long là áp một tục lạ lên một nền tang lễ vốn đi theo chiều ngược lại.

Âm trạch không chạm đất
Mồ mả trong phong thủy gọi là âm trạch, nhà của người chết. Táng kinh, tương truyền của Quách Phác, dựng trên một ý: xác chôn trong đất thì hài cốt nhận khí đất, rồi theo lẽ đồng khí mà truyền phúc họa xuống con cháu. Mộ đặt đúng huyệt thì con cháu phát, sai huyệt thì suy.
Cái lý ấy chỉ đứng được khi xác nằm trong đất. Ở Ba Đình, thi hài nằm trong hòm kính, quanh là bê tông, thép, kính chống đạn và máy điều hòa. Khí đất không vào được, khí người chết không ra được, hai bên cắt đứt hẳn.
Thi hài lại được tẩm formalin, glycerol, kali acetate cho khỏi rữa. Theo lý âm trạch, xác rữa là xác đang hóa: thịt da tan về đất, nước bốc về trời, còn lại bộ xương sạch, và khí đất nương vào chính bộ xương ấy. Người Việt bốc mộ sau ba năm, rửa xương bằng rượu, xếp vào tiểu sành, chôn sang huyệt mới, cũng là để cho xong chữ hóa đó.
Ướp xác chặn đứng việc hóa. Thịt không rữa thì xương không lộ, xương không lộ thì khí đất không có chỗ nương. Cái vòng đáng lẽ khép lại sau vài năm bị chặn ngang, và đã nằm chặn ngang như thế hơn nửa thế kỷ.
Chính Hồ Chí Minh đã muốn được đốt. Bản di chúc đánh máy năm 1965 và bản viết tay năm 1968 đều có đoạn hắn dặn hỏa táng. Bản 1968 viết: "Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là 'hỏa táng'."
Cũng bản ấy dặn chia tro làm ba hộp sành cho ba miền, mỗi miền chọn một quả đồi mà chôn, trên mộ đừng dựng bia đá tượng đồng, quanh đồi thì trồng cây cho lâu ngày thành rừng. Đặt lời dặn ấy cạnh phép phong thủy thì gần như khớp: đồi đất, cây xanh, thân trả về cho trời đất. Một người cả đời theo chủ nghĩa Mác, đến lúc lo hậu sự vẫn nghĩ như một ông đồ Việt.
Lời dặn ấy không được làm theo. Bản di chúc đọc ở lễ tang tháng 9 năm 1969 bỏ hẳn đoạn hỏa táng; phải hai mươi năm sau, năm 1989, Bộ Chính trị mới cho công bố toàn văn. Trong khi đó, chuyên gia Liên Xô được mời sang ướp thi hài, giữ ở căn cứ K9 vùng Ba Vì suốt mấy năm chiến tranh, rồi đưa vào lăng khi lăng xây xong.
Lý do chính thức là "theo nguyện vọng của nhân dân". Nhân dân ấy chưa từng được hỏi. Người dân lớn lên trong nếp Phật giáo và thờ cúng tổ tiên khó mà muốn đem thi hài một người, bất cứ ai, bày trong hòm kính.
Quyết định nằm trong tay một nhóm nhỏ ở Bộ Chính trị, nhìn theo mẫu Liên Xô. Họ đặt việc chính trị lên trên cả lời dặn của người chết.

Đặt cạnh lăng Huế
Muốn thấy lăng Ba Đình lạc lõng tới đâu, cứ đặt nó cạnh lăng các vua Nguyễn ở Huế. Những lăng ấy xây trước đó hơn một trăm năm, bởi những ông vua mà sách vở chính thống vẫn gọi là phong kiến lạc hậu.
Lăng vua Minh Mạng nằm giữa núi rừng, trước mặt là hồ Trừng Minh, hai bên đồi thông. Nước hồ giữ khí, đồi núi chắn gió; tiền án, minh đường, tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ đều có chỗ của nó. Vua nằm dưới đất, trong quan tài, hài cốt tiếp với địa khí, đúng cách âm trạch vận hành.
Lăng vua Tự Đức nằm trong một thung lũng kín, hồ Lưu Khiêm phẳng lặng, cây phủ bốn bề. Người ta dựng nó cho người chết được yên, và đứng trong đó thì thấy yên thật.
Lăng Ba Đình thì không núi, không nước, bốn phía là phố xá với công sở. Bên trong là phòng kính lạnh, đèn rọi vào hòm kính, máy điều hòa chạy hai mươi bốn giờ, lính gác thay ca ngày đêm. Mỗi năm hàng triệu lượt người xếp hàng đi qua nhìn vào.
Lăng Huế làm ra để người chết được yên. Lăng Ba Đình làm ra để người chết được xem.
Huyệt bị đè
Xét thuần theo phong thủy, lăng gây hại hai lần. Bên trên, khối bê tông đè xuống huyệt. Bên trong, một thi hài không hóa được khóa khí lại ngay giữa huyệt, kẹt mãi giữa sống và chết.
Theo phép phong thủy, huyệt nghẽn thì cả vùng do huyệt ấy chi phối cũng nghẽn theo. Ba Đình lại nằm ngay trung cung Thăng Long.
Từ năm 1975 đến hết thế kỷ, cả nước sống qua những năm đói kém, chiến tranh biên giới ở cả hai đầu đất nước, và biết bao người bỏ nước ra đi trên những chiếc thuyền mong manh. Những chuyện ấy có nguyên nhân chính trị rành rành, người viết không đổ cho một ngôi mộ. Có điều, người tin phong thủy sẽ để ý rằng huyệt giữa kinh đô bị đè đúng vào những năm ấy.

Sống gửi thác về
Người xưa nói sinh ký tử quy, sống gửi thác về. Về là về với ông bà, mang theo họ của cha, tên cha mẹ đặt, khắc trên mộ cho con cháu biết đường mà thắp nhang.
Hồ Chí Minh lai lịch bất minh, đến cái tên trên mộ cũng không phải tên thật. Hắn sinh ra là Nguyễn Sinh Cung, con ông Nguyễn Sinh Sắc, vậy mà trên trán lăng chỉ có hàng chữ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng đá đỏ, một bí danh. Người Việt không ai bỏ họ cha, bỏ tên cha mẹ đặt, rồi mang bí danh xuống mộ.
Cả đời hắn làm những chuyện trời tru đất diệt với dân tộc Việt Nam, nên phải chịu quả báo. Xác thì bị giữ trong hòm kính, hồn thì làm kiếp quỷ không đầu thai được, vất vưởng nơi dương gian mà ám dân tộc này. 
Vô Danh
https://www.facebook.com/vo.danh.912956


Đỉnh quang minh, ngực xuyên kiếm, chẳng nỡ diệt trừ lục phái
Tòa Bạch ốc, tay nắm quyền, không đành hạ ngục cựu thù

Vô Danh

Giang hồ có câu: "Quân tử báo thù, mười năm chưa muộn."
Đọc Kim Dung mấy chục năm, kẻ chép truyện nhớ nhất một người đã mang mối thù đủ mười năm, nắm đủ sức báo thù trong tay, rồi không báo. Người ấy là Trương Vô Kỵ.
Mới đây, kẻ chép truyện thấy thêm một người nữa.
Chư vị còn nhớ ngày Trương Tam Phong chân nhân mừng thọ trăm tuổi. Rượu chưa tàn, anh hùng các phái đã kéo lên chật sảnh đường Võ Đang, ép Trương Thúy Sơn khai chỗ ở của nghĩa huynh Tạ Tốn. Khai thì phụ nghĩa. Không khai thì cả võ lâm không tha. Trương Thúy Sơn rút kiếm tự vẫn trước mặt sư phụ. Ân Tố Tố gục xuống bên xác chồng, rồi đi theo chồng.
Đứa con của họ 10 tuổi. Nó đứng giữa sảnh, hai bàn tay nhỏ nắm chặt, nhìn cha ngã rồi mẹ ngã theo. Từng gương mặt danh môn chánh phái đứng quanh đó, nó nhớ hết.
Ngót 10 năm sau, cũng những môn phái ấy kéo lên vây Quang Minh Đỉnh. Bấy giờ đứa bé năm nào đã luyện thành Cửu Dương thần công, chỉ một chưởng là lấy được mạng kẻ nào chàng muốn. Kẻ thù của cha mẹ đứng ngay trước mặt. Chu Chỉ Nhược vâng lệnh thầy, đâm Ỷ Thiên kiếm vào ngực chàng. Chàng thấy mũi kiếm tới mà không tránh. Máu ướt vạt áo, chàng không trả một chiêu, chỉ xin các phái bãi binh xuống núi.
Ít lâu sau, cao thủ sáu phái bị Triệu Minh bắt giam trên ngọn tháp chùa Vạn An. Người liều mạng phá ngục cứu họ ra, lại là đứa bé 10 tuổi năm nào.
Theo lễ giáo người xưa, thù cha mẹ là thù không đội trời chung. Trương Vô Kỵ đội chung trời với kẻ thù, lại còn cứu mạng họ. Giang hồ gọi thế là lấy ơn báo oán.

Đêm 9 tháng Mười năm 2016, tại St. Louis, ông Donald Trump đứng đối diện bà Hillary Clinton trong cuộc tranh luận thứ nhì. Bà Clinton nói may cho nước Mỹ là luật pháp không nằm trong tay một người tánh khí như ông. Ông đáp: "Vì nếu thế thì bà đã ngồi tù rồi."
Ba vạn ba ngàn điện thư bị xóa, máy chủ bị tẩy sạch. Chính Giám Đốc FBI James Comey gọi cách bà xử lý tin tức mật là "cực kỳ cẩu thả". Khắp các buổi vận động, đám đông hô vang: "Bỏ tù bà ta!"
Một tháng sau, ông đắc cử. Chưa đầy một tuần sau đó, trên đài CBS, ông nói về vợ chồng Clinton: "Tôi không muốn làm hại họ." Ít hôm sau, ông nói thêm về bà: "Bà ấy đã trải qua nhiều chuyện, đã khổ sở nhiều bề." Không một công tố viên đặc biệt nào được cử ra. Bà Hillary về nhà ở Chappaqua, yên ổn.
Nào ngờ ơn tha ấy được trả bằng 8 năm săn đuổi. Hai lần đàn hặc. Bốn bản cáo trạng, 91 tội danh. Nhà riêng bị lục soát. Tấm hình căn cước chụp trong khám đường như một phạm nhân, chuyện chưa từng xảy ra với một vị Tổng Thống Hoa Kỳ nào. 2 người con trai bị lôi ra tòa.
Rồi chiều 13 tháng Bảy năm 2024 ở Butler, một viên đạn sượt qua vành tai ông. Máu chảy xuống má. Ông gượng đứng lên, giơ cao nắm tay.
Cha mẹ Trương Vô Kỵ bị dồn tới chết trong một buổi tiệc mừng thọ. Ông Trump bị dồn suốt 8 năm, có lúc chỉ cách cái chết đường tơ kẻ tóc.
Tháng Giêng năm 2025, ông trở lại Tòa Bạch Ốc. Lần này hai viện Quốc Hội về tay Đảng Cộng Hòa, Bộ Tư Pháp và FBI do người của ông đứng đầu. Đồ Long đao đã nằm trong tay.

Hôm thứ Tư, 7 tháng 10 năm 2026, trong Phòng Bầu Dục, một ký giả hỏi ông có lo phe Dân Chủ sẽ đàn hặc ông lần nữa nếu họ chiếm lại Quốc Hội. Ông nói ông đã có thể làm những chuyện rất tệ với Hillary Clinton, với Joe Biden, với Barack Hussein Obama. "Tôi nghĩ làm vậy là không phải lẽ, vì người ta phải tôn trọng chức vị Tổng Thống."
Rồi ông nói tiếp: "Ngay lúc này đây, tôi muốn làm gì cũng được, nếu tôi muốn." Và: "Đã có rất nhiều người bảo: 'Đi bắt ông ta đi.' Tôi nói: 'Không. Không thể làm vậy với chức vị Tổng Thống.'"
Từ đêm St. Louis tới hôm ấy là 10 năm thiếu hai ngày.

Năm xưa trên Quang Minh Đỉnh, Trương Vô Kỵ muốn lấy mạng ai cũng được. Chàng thu chưởng. Ở Butler, máu chảy xuống má, ông Trump vẫn giơ tay lên trời. Ở Phòng Bầu Dục, quyền nằm trọn trong tay, ông để bàn tay ấy nằm yên.
Trong khi ấy, phe Dân Chủ vẫn giống 6 phái năm xưa kéo lên núi Võ Đang đòi nợ, chưa đòi được thì chưa chịu về.
Tháng Giêng năm nay, ông Hakeem Jeffries, người cầm đầu khối Dân Chủ ở Hạ Viện, gởi lời cảnh cáo tới tất cả những ai đang làm việc trong chánh quyền Trump tổng thống :”Donald Trump sẽ rời nhiệm sở từ lâu trước khi hết thời hạn truy tố 5 năm. Coi như các người đã được báo trước." Nói cho dễ hiểu: phần lớn các tội liên bang có thể bị truy tố trong vòng 5 năm, còn ông Trump mãn nhiệm vào tháng Giêng năm 2029. Vì vậy, ai làm việc cho ông hôm nay thì sau khi ông rời Tòa Bạch Ốc vẫn có thể bị lôi ra tòa.
Cuối tháng 9, các dân biểu Dân Chủ còn bàn sẵn kế hoạch: nếu thắng cử tháng 11 này và chiếm lại Hạ Viện, họ sẽ mở điều tra tiền bạc của gia đình ông Trump. Khi báo chí hỏi có tính chuyện đàn hặc nữa không, ông Jeffries đáp: chưa loại trừ điều gì.
Một bên nắm trọn quyền trong tay mà nói chữ "không". Một bên chưa nắm quyền đã hăm he tính sổ.
Chuyện chép tới đây là hết hồi. Kẻ chép truyện gác bút, rót một chén rượu, nâng lên rồi lại đặt xuống.

Chư vị thử đặt mình vào chỗ ông Trump. Người ta đàn hặc mình hai lần, chụp hình mình như tù phạm, lôi con trai mình ra tòa. Một viên đạn bắn trượt qua tai mình. Rồi một ngày, quyền bính cả nước nằm trong tay mình, sau lưng biết bao người giục: "Bắt hắn đi!" Chư vị có tha nổi không?
Ông Trump tha. Ông chỉ nói: "Không. Không thể làm vậy với chức vị Tổng Thống."

Người Việt tị nạn chúng ta biết kẻ thắng trận trả thù ra sao. Sau tháng Tư năm 1975, người ta bảo sĩ quan, công chức miền Nam mang theo đồ ăn 10 ngày để đi "học tập cải tạo". 10 ngày hóa thành 10 năm. Có người nằm lại luôn nơi rừng thiêng nước độc, vợ con không biết mồ mả ở đâu. Bởi vậy, nghe một ông Tổng Thống đang nắm quyền trong tay nói "Không, không thể làm vậy", người Việt mình hiểu chữ "không" ấy nặng tới chừng nào.
Lão Tử dạy: "Báo oán dĩ đức", lấy đức mà đáp oán. Núi Võ Đang tụng câu ấy mấy trăm năm, người làm trọn lại là đứa con mồ côi của Trương Thúy Sơn. Hoa Kỳ năm nay tròn 250 năm lập quốc. Người làm được câu ấy giữa Tòa Bạch Ốc, chư vị đã thấy là ai.

Quân tử báo thù, 10 năm chưa muộn. 10 năm đã tới, ông không báo. Nhà Phật gọi tấm lòng ấy là hỷ xả. Nhà Nho gọi người mang tấm lòng ấy là quân tử.
"Đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo" (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo).
Vô Danh 
https://www.facebook.com/vo.danh.912956


Tại sao cộng đồng tị nạn không thể quên
ai đã cứu mình và ai đã bỏ rơi mình

Vô Danh

“Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.”  (Ronald Reagan, A Time for Choosing, 1964)

Tôi viết những dòng này không phải bằng mực, mà bằng máu của ký ức. Máu của những người lính miền Nam VNCH chết không phải vì hèn nhát mà vì hết đạn. Máu của những bà mẹ ôm con nhảy xuống biển và không bao giờ nổi lên. Máu của những người cha gầy trơ xương trong trại tù Cộng sản, chết trong im lặng, không một dòng cáo phó. Tôi không viết để gieo hận thù. Tôi viết vì sự thật đang bị lãng quên, và khi sự thật bị lãng quên, thì những người đã chết sẽ chết lần thứ hai.
Năm 1964, Ronald Reagan đứng trước cả nước Mỹ và nói một câu mà lịch sử sẽ chứng minh là lời tiên tri: “Kết thúc một cuộc xung đột không đơn giản chỉ là gọi nó lại và về nhà. Vì cái giá của loại hòa bình đó có thể là một ngàn năm bóng tối.” 
11 năm sau, nước Mỹ làm đúng điều Reagan khuyến cáo: gọi cuộc chiến lại và về nhà. Và bóng tối phủ xuống Việt Nam , chưa đủ một ngàn năm, nhưng đủ lâu để hàng triệu người chết, hàng triệu người bị bỏ tù, và hàng triệu người phải rời bỏ quê hương mãi mãi.
Ai đã gây ra bóng tối ấy, và ai đã thắp lên ngọn nến?

NHÁT DAO ĐẦU TIÊN : VỤ LẬT ĐỔ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM
Hãy quay về Sài Gòn, mùa thu năm 1963. Ngô Đình Diệm , con người đã nhận một miền Nam hoang tàn sau Hiệp định Geneva 1954 và xây dựng nó thành một quốc gia có chủ quyền giữa vòng vây của du kích Cộng sản đang điều hành một đất nước non trẻ trong vỏn vẹn 9 năm , tuy chưa hoàn hảo nhưng đang đứng vững. Ông đã làm được điều mà ngay cả chính tổng thống Dwight D. Eisenhower đã phải thốt lên:  “Người tạo nên kỳ tích của châu Á” (“Miracle man of Asia”). 
Có thể trong mắt 1 số người,  Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải thánh nhân. Nhưng ông là đồng minh của Mỹ. Và đồng minh, trong mọi luật chơi của quan hệ quốc tế, không phải để giết.
Nhưng chính quyền của tổng thống đảng Dân Chủ John F. Kennedy lại nghĩ khác. Ngày 24 tháng 8 năm 1963, một bức điện tín từ Bộ Ngoại giao Mỹ , cáp điện DEPTEL 243, sáu chữ số sẽ khắc vĩnh viễn vào lịch sử như vết dao không bao giờ lành được gửi tới Sài Gòn, bật đèn xanh cho các tướng lĩnh Việt Nam đã được Mỹ mua chuộc bằng tiền: Washington sẽ không cản đảo chánh.
Đại sứ Henry Cabot Lodge Jr. thực thi mệnh lệnh với sự nhiệt tình mà sau này chính những người ra lệnh phải hối hận. Ngày 2 tháng 11 năm 1963, Tổng thống  Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị giết trong xe thiết giáp. Một vị tổng thống đồng minh bị chính đồng minh của mình giết. Và ba tuần sau, John Kennedy cũng bị giết tại Dallas và như thể lịch sử có cách riêng để trả lại món nợ.
Hậu quả của cuộc lật đổ ấy là cơn hồng thủy chính trị: bảy cuộc đảo chính liên tiếp trong hai năm, miền Nam rơi vào hỗn loạn, và chính sự hỗn loạn ấy cho phép chính quyền Dân Chủ tiếp theo Lyndon B. Johnson đổ nửa triệu quân Mỹ vào Việt Nam năm 1965 với Nghị quyết Vịnh Bắc Bộ , dựa trên một sự kiện mà lịch sử xác nhận đã bị phóng đại và bóp méo. Xin hãy nghe kỹ lôgic tàn nhẫn này: họ giết nhà lãnh đạo đồng minh, tạo khoảng trống quyền lực, rồi dùng chính khoảng trống ấy để đổ quân vào. Hơn 58.000 quân nhân Mỹ và hàng triệu người Việt chết trong cuộc chiến mà đảng Dân Chủ khởi động nhưng không có chiến lược kết thúc. Đây là nhát dao đầu tiên.

NHÁT DAO THỨ HAI : JOHN KERRY VÀ LỜI PHẢN BỘI TRƯỚC QUỐC HỘI
Nếu vụ lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm là nhát dao chém vào đầu, thì lời điều trần của John Kerry ngày 22 tháng 4 năm 1971 trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện là nhát dao xoay trong vết thương còn đang rỉ máu. Hãy hình dung khung cảnh: một chàng trai 27 tuổi, mặc quân phục, đeo huy chương Silver Star và ba Purple Hearts, ngồi trước ống kính truyền hình quốc gia và nói với cả nước Mỹ rằng những người lính đồng đội của anh ta và, bằng nghĩa mở rộng, những người lính đồng minh miền Nam là những kẻ “hiếp dâm, cắt tai, cắt đầu, dùng dây điện gắn vào cơ quan sinh dục, tàn phá làng mạc theo kiểu Thành Cát Tư Hãn.”
John Kerry so sánh những người lính Mỹ và đồng minh Việt Nam với kẻ xua quân tàn sát khắp lục địa với  Thành Cát Tư Hãn. Và cả nước Mỹ xem. Và cả thế giới nghe. Và Hà Nội đặc biệt ghi nhận, cất giữ, và sử dụng từng lời của Kerry như đạn dược tuyên truyền trong suốt những năm còn lại của cuộc chiến. Người lính Việt Nam Cộng Hòa , người đã bỏ lại vợ con để vào sinh ra tử, người mà sau này sẽ chết trong trại tù cộng sản hoặc chìm dưới đáy biển Đông , bị Kerry gộp chung vào bức tranh tội ác mà không một lời phân biệt, không một chút công bằng, không một giọt đồng cảm.
Nhưng điều đau đớn hơn cả lời nói là hậu quả. Kerry không chỉ nói , ông tạo ra môi trường. Ông giúp biến cuộc chiến tranh Việt Nam thành vết nhơ trong lương tâm Mỹ, và từ vết nhơ ấy, Quốc Hội Đảng Dân Chủ có cơ sở đạo đức để cắt viện trợ, bỏ rơi đồng minh, và rửa tay khỏi máu của hàng triệu người. Và để nghịch lý lên đến đỉnh điểm: năm 2004, chính Kerry ra tranh cử tổng thống với tư cách ứng viên Đảng Dân Chủ, dùng kinh nghiệm Việt Nam làm vốn chính trị. Rồi với tư cách Ngoại trưởng dưới thời tổng thống Obama, Kerry tiếp tục xích lại gần Hà Nội, nâng cấp quan hệ song phương, và không bao giờ , không một lần đặt nhân quyền làm điều kiện tiên quyết. Người phản bội người lính đồng minh năm 1971 giờ ôm hôn chế độ đã bỏ tù chính những người lính ấy. Phản bội kép. Và cả hai lần đều dưới ngọn cờ Dân Chủ.

NHÁT DAO THỨ BA : CẮT VIỆN TRỢ VÀ THÁNG TƯ ĐEN
Năm 1973, Tổng thống Cộng Hòa Richard Nixon ký Hiệp định Hòa bình Paris, kèm theo một lời hứa, lời hứa của cường quốc số một thế giới với một quốc gia nhỏ bé đã đổ máu suốt 20 năm vì niềm tin của Mỹ: chúng tôi sẽ tiếp tục viện trợ. Các bạn sẽ không bị bỏ rơi.
Lời hứa ấy bị phản bội ngay trước mắt những người đã tin. Tu Chính Án Case-Church năm 1973, do hai nghị sĩ Dân Chủ chủ xướng, cấm mọi hành động quân sự của Mỹ tại Đông Dương. Rồi Quốc Hội Dân Chủ ra tay nghiền nát: viện trợ cho miền Nam bị cắt từ 1,4 tỷ đô la xuống 700 triệu, rồi xuống 300 triệu, trong khi Liên Xô và Trung Quốc đổ vũ khí cho Bắc Việt như nước sông. Quân đội miền Nam không còn đạn để bắn, không còn nhiên liệu để chạy xe, không còn phụ tùng để sửa máy bay. Họ chiến đấu bằng tay không chống lại đạo quân được trang bị tận răng. Và họ thua. Không phải vì họ hèn. Mà vì họ bị phản bội.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, xe tăng Bắc Việt húc đổ cổng Dinh Độc Lập. Một quốc gia biến mất. Hàng triệu người bị đưa vào trại tù “cải tạo” cái tên thật khốn nạn dành cho trại tù của Cộng sản , phải làm việc khổ sai, bị đánh đập, bị bỏ đói, nhiều người chết trong im lặng. Hàng trăm ngàn người liều mạng ra biển trên những chiếc thuyền mỏng manh, và biển Đông trở thành nghĩa trang không bia mộ lớn nhất thế kỉ 20. Lời tiên tri của Reagan thành hiện thực: bóng tối đã phủ xuống Việt Nam. Và những người tắt đèn chính là Quốc Hội do Đảng Dân Chủ nắm quyền.

NHÁT DAO THỨ TƯ : JOE BIDEN VÀ CÂU NÓI MÀ NGƯỜI VIỆT KHÔNG BAO GIỜ QUÊN
Trong những giờ phút tăm tối nhất ấy, khi Sài Gòn đang hấp hối và Tổng thống Cộng Hòa Gerald Ford cầu xin Quốc Hội bật đèn xanh cho lệnh di tản, có một giọng nói trẻ trung và lạnh lùng vang lên trong Toà Bạch Ốc ngày 14 tháng 4 năm 1975. Đó là giọng của Thượng nghị sĩ Joe Biden, 32 tuổi. Và ông nói: “Tôi sẽ bỏ phiếu cho bất kỳ khoản nào để đưa người Mỹ ra. NHƯNG Tôi không muốn gộp chung với việc đưa người Việt ra.”
Hãy đọc lại câu ấy: “Tôi không muốn gộp chung việc đưa người Việt ra.” Trong khi hàng trăm ngàn người đã làm việc cho Mỹ, phiên dịch, tài xế, nhân viên, quân nhân đồng minh đang run rẩy chờ chết dưới họng súng Bắc Việt. Joe Biden còn nói: “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ, về đạo đức hay gì khác, để di tản công dân nước ngoài” và “Hoa Kỳ không có nghĩa vụ di tản một hoặc 100.001 người miền Nam Việt Nam.” Không có nghĩa vụ đạo đức. Với những người đã đổ máu vì tin Mỹ.
Nhưng Gerald Ford một tổng thống Cộng Hòa không được bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, nhưng có lương tâm đã nói “có.” Ông bất chấp Biden. Bất chấp Quốc Hội Dân Chủ. Bất chấp dư luận mệt mỏi chiến tranh. Và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ an toàn. 130.000 cuộc đời mà Biden muốn bỏ lại. Hãy tự hỏi: bạn, hoặc cha mẹ bạn, hoặc ông bà bạn, có nằm trong 130.000 người ấy không?

NHÁT DAO THỨ NĂM : BILL CLINTON VÀ CHIẾC PHAO CỬU MẠNG CHO CHÍNH QUYỀN HẤP HỐI
Xin hãy theo tôi quay về đầu thập niên 1990, một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam mà ít người nhận ra. Liên Xô vừa sụp đổ, cuốn theo nguồn viện trợ sống còn của Hà Nội. Nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ. Lạm phát phi mã tới 700%. Người dân đói khổ. Cán bộ cộng sản tìm đường tẩu tán tài sản bỏ đi ra hải ngoại. Bộ máy đảng lung lay. Chế độ Cộng sản Việt Nam đang ở đúng nơi mà Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, Rumani đã đứng trước khi sụp: bên bờ vực thẳm. Cấm vận của Mỹ là cái thòng lọng đang siết chặt cổ họng một chế độ đã hết ợ dựa. Lịch sử đang mở một cánh cửa, cánh cửa mà nếu Mỹ giữ vững áp lực, có thể dẫn đến sự sụp đổ của chế độ và tự do cho tám mươi triệu con người.
Tổng thống đảng Dân Chủ Bill Clinton đóng sập cánh cửa ấy. Năm 1994, ông bỏ cấm vận thương mại. Năm 1995, ông bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hà Nội. Năm 2000, ông bay đến Hà Nội trong cương vị tổng thống Mỹ đầu tiên đặt chân lên đất Việt Nam kể từ chiến tranh và bắt tay với những người đã giết 58.000 quân nhân Mỹ, những người vẫn đang giam cầm tư tưởng, đàn áp tôn giáo, và cưỡng chế đất đai của dân. Clinton thả chiếc phao cứu mạng xuống giữa lúc chế độ đang chìm. Dòng vốn đầu tư nước ngoài đổ vào. Thương mại mở ra. Và đảng Cộng sản với bộ máy đàn áp vẫn nguyên được tiêm máu mới để sống thêm ba thập niên.
Clinton và những người ủng hộ ông nói rằng bình thường hóa sẽ “mở cửa tự do.” Ba mươi năm sau, hãy kiểm kê: cửa tự do ở đâu? Việt Nam năm 2026 vẫn là nhà nước độc đảng. Người bất đồng chính kiến vẫn bị bỏ tù. Truyền thông vẫn bị kiểm soát. Tôn giáo vẫn bị sách nhiễu. Đất đai vẫn bị cưỡng chế. Nhưng đảng Cộng sản thì giàu lên, quan chức thì xây biệt phủ, con cái họ thì du học ở Mỹ, và hệ thống độc tài thì vững chắc hơn bao giờ hết.  Tất cả nhờ chiếc phao mà một tổng thống Dân Chủ đã quăng xuống. Bình thường hóa không giải phóng người dân Việt, nó giải phóng chế độ khỏi sự sụp đổ.

Giữa bức tranh đen tối ấy, hai vị tổng thống đảng Cộng Hòa nổi lên như những ngọn nến mà gió không dập tắt được.
Gerald Ford, vị tổng thống không ai bầu, không có chỉ lệnh của nhân dân, không có vốn chính trị để đốt, nhưng có một thứ mà tổng thống đảng Dân Chủ Joe Biden không có: lương tâm. Ông đứng lên trước Quốc Hội đang nói “không,” trước dư luận đang mệt mỏi, trước các cuộc thăm dò đang chống, và ông ra lệnh di tản. 130.000 người Việt được đưa đến Mỹ. 
Julia Taft, người phụ trách tái định cư, nói với NPR: “Họ là phiên dịch, là nhân viên, là một phần của quân đội đồng minh. Lẽ ra họ phải được giúp đỡ.” Và Ford đã giúp.
Rồi đến Ronald Reagan, người mà với người Việt tỵ nạn, tên ông gắn liền với hai chữ: hồng ân. Năm 1984, Ngoại trưởng Shultz tuyên bố trước Quốc Hội rằng Mỹ sẵn sàng nhận tới 10.000 tù nhân chính trị. Năm 1987, Nghị quyết 205 và 212 tạo khung pháp lý cho chương trình Nhân đạo. Ngày 30 tháng 7 năm 1989, dưới thời Bush cha, hiệp định HO được ký. Và cánh cửa tự do mở ra cho 180.000 cựu tù nhân cải tạo và gia đình của những người đã chịu tra tấn, lao động khổ sai, và mất mát không thể đo đếm. Trong bài Diễn văn Chia tay ngày 11 tháng 1 năm 1989, Reagan nhắc nhở nước Mỹ về nghĩa vụ đối với người tỵ nạn Việt Nam.  Ông không nói suông như Clinton, ông hành động. Và 180.000 cuộc đời được cứu là bằng chứng.
Nhiều gia đình Việt tại Mỹ ngày nay, những gia đình HO, không biết rằng sự tồn tại của họ trên đất Mỹ bắt nguồn từ một quyết định của Reagan. Con cái họ học trường Mỹ, đậu đại học Mỹ, làm bác sĩ kỹ sư luật sư tại Mỹ.  Tất cả bắt đầu từ một tổng thống Cộng Hòa đã nghĩ đến họ khi không ai khác buồn nghĩ. Đây không phải lý thuyết chính trị. Đây là lịch sử gia đình. Và lịch sử gia đình không nên bị quên bởi bất kỳ chiến dịch vận động nào.

LÁ PHIẾU LÀ KÝ ỬC, VÀ KÝ ỬC LÀ MÓN NỢ KHÔNG THỂ QUÊN
Tôi đã dẫn bạn đi qua 60 năm lịch sử. 60 năm máu và nước mắt. Và lịch sử lặp đi lặp lại với sự tàn nhẫn của máy đồng hồ: đảng Dân Chủ giết đồng minh, đổ quân không kế hoạch, John Kerry phản bội người lính, Quốc Hội cắt viện trợ, Biden nói “không có nghĩa vụ,” Clinton thả phao cứu chế độ đã giam cầm chính chúng ta. Trong khi Ford cứu 130.000 người. Reagan mở cửa cho 180.000 tù nhân. Đây không phải tình cờ. Đây là sự thật lịch sử 
Mỗi lá phiếu của người Việt tỵ nạn không chỉ là lựa chọn chính trị. Nó là hành động ký ức. Là câu trả lời cho câu hỏi mà cha ông chúng ta đã trả bằng máu: bạn có nhớ ai đã cứu mình không, và bạn có nhớ ai đã bỏ rơi mình không?
Reagan đã nói: cái giá của loại hòa bình dễ dãi là một ngàn năm bóng tối. Người Việt đã và đang sống trong bóng tối ấy. Và lá phiếu chính là cách duy nhất để bóng tối không quay lại cho Việt Nam, cho nước Mỹ, và cho những đứa trẻ mà cha ông đã liều mạng vượt biển để chuyển giao cho chúng một điều duy nhất: TỰ DO.
Lá phiếu là ký ức. Ký ức là món nợ. Và món nợ, đối với người Việt tỵ nạn, là điều thiêng liêng mà Tháng Tư Đen 1975 không bao giờ cướp được. 
Vô Danh

https://www.facebook.com/vo.danh.912956

 

Đăng ngày 12 tháng 10.2026