Sẵn sàng từ bỏ thiên đường

Trần Mộng Tú

Buổi tối vào giường, sau khi “Đọc Kinh Tối”, tôi hay mở cái phone cầm tay lướt xem những tin tức.
Khoan nói những tin tức thời sự quốc tế và tin ở Mỹ, vì phần này hai vợ chồng thường cùng coi sau bữa cơm chiều, trên khung hình lớn. Nghe tin tức ở Mỹ và tin tức thế giới, khi có hai người thường hữu ích hơn cho tôi vì được chia sẻ và được cắt nghĩa thêm về chính trị, về thời sự thế giới mà tôi không giỏi bằng chồng.Tôi xem tin tức Việt Nam trong phone một mình.

Chao ôi! Trong phone, ở Việt Nam thì hấp dẫn vô cùng, nói theo kiểu người Việt trong nước: càng ngày càng “gây ấn tượng”.
Điều đáng kể ra học được từ cái phone cầm tay: Trước tiên vào đường link Việt Nam thì cả cái phone thành màu đỏ: Cờ đỏ rồi đến y phục cũng đỏ. Đỏ từ mặt đất đỏ lên, đỏ từ trên trời rơi xuống. Chương trình nào cũng có màu đỏ nhuộm kín cả thành phố, cả quốc gia, đôi khi nhuộm luôn cả bầu trời.
Mục nào mở tới, hình ảnh phụ nữ Việt, ai cũng đẹp như cùng nhau từ mỹ viện bước ra. Các cô, các bà, đều có sống mũi rất cao và hàm răng trắng, thẳng tăm tắp (giống như hàm răng giả của các bô lão bên Mỹ), ngay cả những phụ nữ trẻ ngồi bán trái cây, ở chợ hay bán hàng trong những tiệm bách hóa, cô nào, bà nào cũng có sống mũi cao như người Âu Châu, rất ít người còn sống mũi thấp nguyên thủy, khiêm nhường của người Á Đông. Nước da người nào cũng trắng bóc, mặc dù họ luôn ở ngoài nắng. Trông họ giống nhau như chị em cùng một gia đình. Phụ nữ Việt Nam nào cũng đẹp và cũng có thể đoạt chức hoa hậu. Lâu lâu lại thấy tin: Cô X hay cô Y được chọn vào danh sách hoa hậu quốc tế, hay một cô “T” hay cô “H” nào đó được chọn vào danh sách đẹp nhất hoàn vũ. Cứ theo thông tin trên mạng trong nước thì Người Việt làm cả thế giới sửng sốt vì nhan sắc của phụ nữ, Việt nam không có nhan sắc khiêm nhường.
Thêm nữa, trên mạng, Việt Nam tuyệt nhiên không thấy người “nghèo” Người ta đã dọn sạch sẽ đám người nghèo ra ngoài thành phố, đã đuổi họ về những ngôi làng thật xa đô thị và ở thành phố hình như không có ăn mày, không có người vô gia cư như ở các nước khác trên thế giới.
Về kinh tế và tài sản quốc gia thì những thông tin trên cái phone bé tí đó cho thấy: Việt Nam có rất nhiều triệu phú (dollar)
Việt Nam còn có một ông tỷ phú lọt vào danh sách tỷ phú thế giới, đang xây dựng những công trinh to tát bao giờ cũng đi theo hàng chữ “nhất thế giới”, không thấy công trình nào của ông bị xếp “hạng nhì”

Việt Nam trên cao trào phục hưng kinh tế nhờ những cường quốc đổ vào đầu tư sau chiến tranh. Trong vòng 50 năm (thật ra chỉ mở cửa từ năm 1987) Viêt nam đã thay da đổi thịt, một thế hệ cộng sản đổi mới và “tham nhũng” nhanh chóng thành hình. Khi người ta nghèo cùng cực được tiền rơi xuống đầu như lá mùa thu thì thật không biết phải sống thế nào “cho đúng”. Cho nên chúng ta đã nhìn thấy những ngôi nhà có kiến trúc Âu Châu như trong phim thời La Mã xây giữa đồng không mộng quạnh, hay giữa một ngôi làng nghèo khó, giữa những ngôi nhà lụp xụp, bỗng xuất hiện một hai ngôi nhà cao từng, cửa dát vàng lá, trong nhà tường ốp đá hoa cương, ánh đèn pha lê sáng chói mắt, và nội thất toàn bằng gỗ gụ, trạm trổ long phụng, bộ salon phòng khách, một cái ghế mà 5 người khênh không nổi vì vừa to vừa nặng, khách sẽ ngồi lọt thỏm trong đó và miễn xê dịch.
Các con cháu của “ông lớn” thì xây dựng cơ ngơi ở bên ngoài nước Việt.
Những cao ốc, chung cư ở California, Texas bên Mỹ do con các cán bộ Công Sản cao cấp sang làm chủ là chuyện không làm ai ngạc nhiên cả.

Trong cái phone nhỏ đó, tôi còn thấy: Hà Nội, Saigon toàn tỷ phú đô la, xe sang, biệt phủ. Những chiếc xe hơi đắt tiền len lỏi chậm chạp giữa hàng trăm xe gắn máy. Những chiếc xe mà tôi không biết tên và trị giá của nó (vì có mua hay leo lên bao giờ đâu, mà biết). Các con tôi bảo: Ở Mỹ, xe này chỉ có tỷ phú và tài tử Hollywood mua được thôi. Mà cả trong hai lãnh vực đó tôi hoàn toàn thất lạc.
Người Việt ở nước ngoài về thăm quê nhà kháo nhau: Bây giờ về Việt nam nếu cho tiền vào dịp lễ lạc phải cho (ngay cả trẻ nhỏ) từ 100 Mỹ kim trở lên, cho ít hơn sẽ nhìn thấy phản ứng ngay trên mặt người nhận. Hình ảnh, một cô bé trạc 12 tuổi cứ cầm tờ $20.00 Mỹ kim phất qua, phất lại trước mặt người cho, một cô bé khác cũng trạc tuổi đó, lên tiếng. “Bà ơi! Nó chê Bà cho ít đấy!”

Và cũng trên cái phone cầm tay bé tí đó, một nước Việt Nam khác cũng hiện ra: Những tin giết người, hiếp dâm, lừa đảo nhiều nhất ở lứa tuổi 20-40. Đất nước nào cũng có những phần tử xấu, nhưng ở Việt Nam một đất nước văn hóa đạo đức truyền thống Á Đông, bây giờ họ giết nhau dễ dàng ngay trong gia đình, giữa con cháu với ông bà cha mẹ, nhất là những kế phụ, kế mẫu thì hành hạ, giết những đứa trẻ con của vợ, hay chồng không một chút lương tri. Anh, chị em sẵn sàng giết nhau vì một số tiền rất nhỏ, hay một tranh chấp của cải trong chính gia đình mình, không một chút do dự. Mấy người con có thể đốt nhà của cha mẹ ruột mình, nếu chia gia tài không đồng thuận. Ngoài đời sống thì va chạm xe cộ là xuống đánh tới tấp đối phương, bất kể phụ nữ hay người già.
 Còn vô đạo đức hơn nữa, giữa thầy giáo với học trò. Môn đạo đức học đường hầu như không có trong trường, nên thầy giáo “vô tư” mang học trò vào “nhà nghỉ”, Thầy giáo là từng lớp đáng ra được trọng vọng trong xã hội nhiều nhất về vị trí đạo đức thì ở Viêt Nam dường như lại vô đạo đức nhiều hơn những vị trí khác, mới thật lạ!
Thanh niên thiếu nữ yêu nhau xong rồi giết nhau, vứt xác trong cánh rừng hoang hay xuống hồ, sông. Hình như cứ mở phone ra là thấy những tin này lúc nào cũng có.
Giữa những bản tin “nóng” như thế, những youtube và cái phone tay còn là phương tiện chính để người cộng sản lăng mạ người quốc gia bằng những tuyên truyền, bịa đặt, kể lại lịch sử miền Nam (1954-1975) theo cách họ muốn bôi nhọ lịch sử của VNCH.

Cái phone tay còn cho biết: Hiện nay những người Việt Nam trong nước, có của cho con học trường quốc tế khi bé, lớn lên cho du học nước ngoài để con có một tương lai sáng sủa, một phần nào, cũng là để thu nhập thêm cái vốn đạo đức học đường. Rất nhiều gia đình có con du học, rồi tìm việc làm, kết hôn với người bản xứ hay người Việt đã có quốc tịch, ở lại. Khi cha mẹ hưu trí, về già sẽ đoàn tụ sau. Một hình thức di dân mới.
Chê vẫn chê, hạ nhục vẫn hạ nhục, nhưng nếu tìm cách đi được thì vẫn sẵn sàng “từ bỏ thiên đường.”

Trần Mộng Tú
 Tháng 8/2026 

https://thekymoi.media/tran-mong-tu-san-sang-tu-bo-thien-duong-33353/


Toàn quốc nói ngọng!

Đỗ Văn Phúc

Vấn đề dân chúng một số vùng ở Việt Nam nói ngọng đã được chúng tôi đề cập trong bài viết “Tiếng Việt Qua Ba Miền” in trong cuốn Chuyện Dài Chữ Nghĩa từ trang 194 đến trang 202. Sau đó, có vài vị quan tâm đến vấn đề này, đã đề nghị tác giả viết thêm để giải thích tại sao hiện tượng này phát triển quá nhanh và quá rộng để đến nay, gần như người trong  nước Việt Nam đa số nói ngọng và viết ngọng!

Trước đây, chúng tôi biết rằng chỉ có dân một vài vùng nói ngọng; và khi họ viết ra chữ thì cũng ít sai. Nhưng hiện nay, theo dõi trên các trang truyền thông liên mạng; tình hình đã đến độ tồi tệ. Có thể, sự sai này đã trở thành tiêu chuẩn mất rồi. Không chỉ quần chúng nói ngọng, viết sai; mà cả các cơ quan công quyền, báo chí nhà nước cũng sai nhan nhản mà chúng ta có thể thấy hàng ngày.
 Xin đưa ra vài thí dụ với hình ảnh chứng minh như sau:
“Hình ảnh về hoạt động ‘sảm’ xuất nông nghiệp … Thành tích Huân ‘Truơng’ Độc Lập, Huân ‘Trương’ Lao Động.” (Trong phòng triển lãm thành tựu của Bộ Nông Nghiệp)
“Lao động tích cực, làm theo ‘gơng’ đạo đức bác Hồ” (Bảng lớn (billboard) trong thành phố)
“Lịch tiếp dân – ‘Sử’ lý vi phạm.” (Tại văn phòng cơ quan hành chánh)
“Cấm đổ ‘giác’” (Bảng cắm ở góc đường)
“Thùng ‘giác’ (trong sách giáo khoa cấp 1”
“Đường ‘ghồ” ghề, các phương tiện giảm tốc độ.” (Bảng báo về lưu thông công lộ)
“Nóng ‘nòng’ chờ hỗ trợ.” (bản tin trên nhật báo của đảng)
“Dù ai đi ngược về xuôi; nhớ ngày ‘dỗ’ Tổ ‘mùng’ mười tháng ba!” (Sách giáo khoa)
“Tủ đựng ‘rụng’ cụ đặc biệt.” (trong một bệnh viện)
Một điều lạ là người Bắc có thể phát âm đúng cả hai nguyên âm “l” và “n”; nhưng họ lại phát âm trái chiều “l” thành “n” và “n” thành “l”? Ví dụ: Lo lắng thành ‘no nắng’ và ngược lại ‘nông nỗi’ thành ‘lông lỗi’!

Tại sao từ khi có đảng Cộng Sản cầm quyền, ngôn ngữ Việt Nam bị thoái hóa?
Một sự mâu thuẫn lớn trong hàng ngũ đảng viên Cộng Sản. Những lãnh tụ chóp bu, khai sáng ra đảng thường là các người có học, thông minh. Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp đều học xong bằng Thành Chung là trình độ rất hiếm hoi vào thời đầu thế kỷ 20 ở nước Việt Nam. Tuy là đảng của giai cấp Công nhân, nhưng giai cấp này lúc đó chưa hình thành vì con số chẳng bao nhiêu; đa số là cu li trong các đồn điền. Tuyệt đại đa số đảng viên Cộng Sản Việt Nam xuất thân từ thành phần nông dân quê mùa thất học (ngay cả ở Nga và Trung Hoa cũng thế). Bọn này vì ngu muội nên đảng dễ sai khiến lừa bịp. Chúng ngoi lên rất nhanh, nắm giữ những địa vị quyền lực như chủ tịch, bí thư các cấp sau chiến dịch cải cách ruộng đất. Thành phần trí thức lầm lạc theo đảng thì quá ít oi và bị vậy quanh bởi một tập thể ngu dốt kiêu căng nhưng có quyền hành tuyệt đối. Họ biết thân phận; khôn hồn muốn yên thân thì ngậm miệng hùa theo, chớ dại mà lên tiếng chỉ bày cái sai của bọn cầm quyền. Người nào  chính trực không nén được mà lên tiếng thì trước mắt là bị loại ra khỏi hàng ngũ, bị cô lập, kềm chế, bị đưa đi cải tạo ở vùng sơn lam chướng khí hay xa hơn có thể bị thủ tiêu vứt xác xuống sông trong một đêm đen nào đó.

Không thiếu các nhà trí thức đi theo Hồ Chí Minh khi ông Hồ còn che đậy tông tích Cộng Sản mà núp dưới chiêu bài chống Pháp. Những người này đã kẹt lại sau khi đảng Cộng Sản cướp chính quyền. Họ không có lối thoát mà chỉ biết cam chịu nhục nhã để sống sót qua những giai đoạn đấu tố, thanh trừng man rợ. Sự hèn hạ này đã được ngay nhiều người “cách mạng lão thành” thú nhận vào khoảng thập niên 1990s khi chế độ Cộng Sản đã có chút nới lỏng hơn và cũng là khi những vị này đã ở độ tuổi trên dưới 80, không có gì để mất, không còn gì để sợ nữa. Nhạc sĩ Tô Hải, tác giả bài ca nổi tiếng “Nụ Cười Sơn Cước” từ bỏ đảng Cộng Sản năm 2014 khi ông 87 tuổi sau 65 năm theo đảng. Ông viết cuốn Thằng Hèn để tự thú về nỗi hèn hạ, khiếp nhược của chính ông. Nhà Văn Nguyễn Tuân - tác giả Vang Bóng Một Thời - theo đảng từ trước Cách Mạng Tháng 8, trước khi qua đời cũng nói một câu để đời: “Sở dĩ tôi còn sống đến ngày hôm nay, là do biết cách chịu hèn nhục.” Nhà văn Tô Hoài rồi cũng thức tỉnh, viết tập bút ký ngắn Ba Người Khác để nói lên  tính cách man rợ trong phong trào đấu tố, cải cách ruộng đất những năm 1953-1956 ở một vùng nông thôn miền Bắc. Còn nhiều, nhiều lắm.

Sau Hiệp Định Geneve, bọn Cộng Sản chiếm miền Bắc. Những gia đình trí thức, trung lưu đã cao chạy xa bay vào miền Nam; số còn lại bị truy bức đẩy ra khỏi thành phố, đuổi lên những vùng núi non Yên Bái, Lao Cay… Đám dân quê gia đình bộ đội viên chức đảng tràn vào Hà Nội và các thành thị khác. Hà Nội thanh lịch, ngàn năm văn vật chỉ còn vang bóng một thời. Từ đây, thứ văn hoá bần nông lên ngôi. Đi đâu cũng nghe những giọng nói ngọng nghịu; những câu quê mùa thô lậu nhưng lại ưa pha những chữ văn hoa mà chính người nói chẳng hề hiểu ý nghĩa của chúng! Từ các loa gắn các góc đường phố, đầu ngõ làng quê; mỗi ngày người dân bị tra tấn bởi những câu, những bản văn tuyên truyền do những cán bộ thông tin vừa học qua lớp xóa nạn mù chữ và được chỉ đạo bởi các cấp trưởng mù chữ. Làm sao mà dân chúng miền Bắc không bị thâm nhiễm bởi các ngôn ngữ sai trái và giọng nói ngọng nghịu.

Một bạn của tôi, nhà báo NGQ ở Minnesota đã cho biết thực tế là: “Khi sống chung với đám bần nông thất học gốc gác các vùng quê đồng bằng Bắc bộ; các nhà trí thức phải học theo cách nói ngọng, nói sai của chúng để như tự xác nhận mình cũng thuộc thành phần như bọn chúng.”
Chế độ Cộng Sản từ khi nắm quyền cho đến hàng chục năm sau, chỉ coi trọng việc phát triển an ninh, quân sự để củng cố quyền lực mà không quan tâm đến việc phát triển giáo dục, văn hoá. Nếu có đi chăng thì cũng nhằm vào mục đích tuyên truyền nhồi sọ là chính. Vả lại, họ chẳng có nhân lực có đủ khả năng trình độ để làm công việc phát triển văn hoá giáo dục. Chúng ta đều biết việc học hành thi cử trong chế độ Cộng Sản ra sao rồi! Cán bộ, thấy giáo nói ngọng thì dân chúng hay học trò phải nói ngọng theo. Từ đó, cả miền Bắc cùng nói ngọng và không ai nhìn thấy sự lố bịch; và cũng chẳng ai dám gồng mình lên tiếng sửa sai!

Trở lại miền Nam. Chắc chúng ta còn nhớ vào những ngày tháng đầu tiên khi Cộng Sản mới chiếm miền Nam; những chiếc áo dài màu sắc tươi thắm của các cô, các bà biến mất, thay vào đó là những bộ bà ba đen thô thiển; những chiếc áo vét, chiếc cà vạt, đôi giày da trên người các nam tử cũng thay bằng chiếc sơ mi đơn sơ bỏ ngoài quần và những đôi dép nhựa, thậm chí những đôi dép râu. Người miền Nam tự mình thay đổi sao cho không bị nhìn thấy sự khác biệt so với các cán binh Cộng Sản từ Bắc vào hay từ núi rừng mới ra thành thị. Sự thay đổi đột ngột không chỉ ở hình thức bên ngoài mà còn trong ngôn ngữ và cung cách sống. Những người Cộng Sản vốn ganh tị, thù ghét giai cấp trí thức, khá giả. Vì thế, muốn tạm sống yên thân trong xã hội mới thì cách hay nhất là hoà vào trong cái tồi tàn, bần cùng như kẻ chiến thắng.

Những kẻ bần cùng thất học, khố rách áo ôm một khi có quyền lực trong tay thì tự cao tự mãn, tự coi mình là tài giỏi hơn, cao hơn hết thảy mọi người khác - điều mà chúng a thường nghe những người Cộng Sản Việt Nam tự khen mình là ‘đỉnh cao trí tuệ.’ Nhưng những kẻ này lại nhanh chóng tự mâu thuẫn với chính họ khi còn mặc cảm tự ti, nên cố gắng bắt chước lối sống, cách ăn nói của giới phú nông, địa chủ mà họ từng căm thù và tiêu diệt.
Theo cách ông bà xưa từng dè bỉu “dốt hay nói chữ,” bọn thất học này tập tành sử dụng những từ ngữ, cách nói của giới có học; nhưng chính họ không hề hiểu hết ý nghĩa của những chữ đó.  Ngày trước có một chuyện cười tiêu biểu về một tên bần hàn mới làm giàu đã học cách nói chữ Nho  mà anh ta nghe lỏm được. Đó là câu “Giáo đa thành oán” (Dạy dỗ nhiều qua cũng có thể đem tới lòng oán giận). Anh nhà giàu mới một hôm răn đe con, đã nói “Tao biết ‘Gáo tra dài cán,’ la mắng mày nhiều thì mày oán tao!”
Có lẽ trường hợp như trên ngày nay không còn là chuyện châm biếm mà đã là sự thật mất rồi. Hết phương cứu chữa chăng?

Đỗ Văn Phúc
Nguồn: Internet

 

Đăng ngày 12 tháng 10.2026