banner

 

 

Sau 15 năm hoạt động (2008-2023), website Ái hữu Đại học Sư Phạm Sài gòn tạm ngưng việc đăng thêm bài vở và tin tức.

Độc giả muốn lưu giữ bài viết và hình ảnh để làm tư liệu, xin vui lòng truy cập vào các tiết mục đã đăng trên trang web để download.

Xin chân thành cảm tạ sự hợp tác của tất cả các tác giả và độc giả đã dành cho trang web.

20.07.2023
Admin Website Ái hữu Đại học Sư phạm Sàigòn

Vua Quang Trung cầu phong

(tựa đề nguyên bản: Bảo kiến hay Bảo tất)

Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Lời mở đầu
Khi còn ở bậc trung học, đọc quốc sử về thời đại Tây Sơn, người viết không khỏi bẽ bàng khi vua Quang Trung khi sang Tàu phải “ôm gối” vua Càn Long trước mặt văn võ bá quan, mà nhiều sử gia giải thích là như thể “cha con”. Ôm gối là thế nào? Có giống như một đứa trẻ ôm lấy đùi cha hay không? Không lẽ ông vua già nước Tàu ngồi trên ngai, vua nước mình chạy lại quì xuống ôm chân ông ta, thật còn gì là quốc thể:
Sang đến Yên Kinh, vua Càn Long  tưởng Nguyễn Quang Trung thật, vời đến chầu ở Nhiệt Hà, cho vào làm lễ ôm gối, như là tình cha con một nhà, và cho ăn yến với các thân vương. Đến lúc về nước, vua lại sai thợ vẽ làm một bức ảnh truyền thần để ban cho ân lễ thật là hậu.[1] Dù vua thật hay vua giả, trên bình diện ngoại giao, nghi lễ đó cũng là một thái độ sỉ nhục đất nước mình. Sau đây là một số chi tiết rút ra từ nghiên cứu Khi Núi, Đất, Biển là Một của chúng tôi.


Vua Càn Long

1. Tổng đốc Lưỡng Quảng là Phúc Khang An, tuần phủ Quảng Tây là Tôn Vĩnh Thanh cùng đưa đi đến Yên Kinh. Vua nước Thanh muốn nêu khen khác mọi người thưởng cho rất hậu. Đến hành cung Nhiệt Hà, vào chầu ra mắt, làm lễ bảo tất [2] (ôm lấy đầu gối vua).
Vua cầm bút viết bốn chữ đại tự: Củng cực quy thành [3], là (chầu vào ngôi sao bắc cực đem lòng thành thực quy phục) và một câu đối: Phiên âm: “chúc bổ (hỗ) hiệu tôn thân, vinh (vĩnh) sĩ (thỉ) đan thâm (thầm) tri phất thế. Cận quang ưng sung tích tài kê thanh sư (sử) vị tiền văn [4] (Quốc Sử Quán triều Nguyễn: Đại Nam Liệt Tuyện, sơ tập, quyển 30: Ngụy Tây (Tây Sơn) Nguyễn Văn Huệ, bản dịch của Ngô Hữu Tạo, Đỗ Mộng Khương, Viện KHXH Việt Nam, Viện Sử Học, nxb Thuận Hóa, Huế 1997) trang 556

2. Khi “quốc vương” tới Yên Kinh, vua Thanh mừng lắm, không hề biết đó là Quang Trung giả. Lúc “quốc vương” vào yết kiến, vua Thanh cho cùng ăn yến với các vị thân vương, lại ban ơn đặc biệt cho làm lễ ôm gối hệt như tình cha con trong nhà...
(Ngô Gia Văn Phái: Hoàng Lê Nhất Thống Chí, bản dịch Nguyễn Đức Vân – Kiều Thu Hoạch, nxb Văn Học, Hà Nội 2002) tr. 389

3. Chỉ từ khi thiên triều phát phúc ở Mãn Châu, di phiên ở Tây Nam chưa ai xin lấy hoàng tộc, cho nên việc này có vẻ ra từ sáng kiến, người mới nghe dễ lấy làm ngờ và cho là khó khăn. Nay ôm gối mà vấn an là lễ đối với thân vương, thế là Đại hoàng đế đặc cách dùng lễ ấy đãi mụ quốc vương nước tôi, và không lấy thế làm hiềm...
(Ngô Thì Nhậm tác phẩm I – Hàn Các Anh Hoa, Bang Giao Hảo Thoại, Mai Quốc Liên chủ biên Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học, nxb Văn Học 2001, Thư của thị thần vua Quang Trung trình bày, biện bạch về việc cầu hôn) bản dịch Mai Quốc Liên tr. 399

4. Sáng sớm ngày 11, tước Công họ Phúc đem theo vào chầu, vâng chỉ làm theo lễ ôm con vào thăm nhà vua, thánh thượng mừng và đẹp lòng, đặc cách gia ân cho thơ nhà vua làm, cùng mũ, áo, ngựa, với một vạn lạng bạc và một cỗ mũ để vào chầu, bồi thần cùng người đi theo, đều thưởng cho bạc lạng và các thứ ...
(Đại Việt Quốc Thư: Tờ quốc thư của vua Quang Trung khi ở công quán Viên Minh gửi về nước cho Nguyễn Quang Toản) (Huế: nxb Thuận hóa 1995) tr. 333-4.

Trên đây là trích văn từ bốn tài liệu đề cập đến nghi lễ vua Quang Trung khi sang dự lễ Bát Tuần Vạn Thọ hội kiến cùng vua Cao Tông nhà Thanh (Càn Long) [5]. Sở dĩ chúng tôi trích bốn bản văn trên đây làm tiêu biểu vì có lẽ đây là những chi tiết nguyên thủy từ đó các sách khác rút ra để tường thuật về chuyến công du lịch sử này.

Thế bão tất là gì?
Từ Nguyên (quyển thượng) Vương Vân Ngũ chủ biên, Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán, in lần thứ năm 1980 trang 885:
Bão tất: (Tam Quốc Chí Gia Cát Lượng truyện chú) Lượng mỗi thần tịch thung dung. Bão tất trường khiếu. Gia Cát Lượng mỗi lúc sáng chiều thong thả, lại ôm gối mà kêu.
Khảng khải cùng lâm trung, Bão tất độc tồi tàng.
(Lưu Côn Phù Phong Ca)
Nơi rừng sâu khoảng khoát, một mình ôm gối quên hết những việc trong lòng.

Một điều đáng ngạc nhiên là hầu hết những từ điển khác lại không tìm đâu ra hai chữ bão tất (ôm gối) [6]. Có thể đây chỉ là một động tác quá thông thường thành thử từ điển không nhắc đến. Ở trên, theo Từ Nguyên thì chúng ta chỉ thấy có Gia Cát Lượng trong Tam Quốc Chí, Lưu Côn trong Phù Phong Ca có liên quan đến cái kiểu ngồi bó gối. Mà cả hai ví dụ đều nhắc đến một hoàn cảnh không vừa ý nên bão tất ở đây lại ngầm cái vẻ bất đắc chí.

Người Việt chúng ta cũng hay ngồi theo cái kiểu “ngồi bằng hai bàn chân, tay khoanh đánh đai lấy đầu gối” (Từ Điển Tiếng Việt tường giải & liên tưởng, Hà Nội: nxb VHTT 1993 tr. 73). Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, chương 5 (bản dịch Nguyễn Duy Chính) chúng ta cũng thấy Ân Tố Tố ngâm mấy câu thơ có hai chữ ôm gối:
Trương Thúy Sơn vốn chỉ muốn hỏi nàng về chuyện tối hôm qua, lúc này thấy nàng đã đổi qua trang phục đàn bà, còn đang ngại ngùng, thì thiếu nữ ngửng đầu lên nhìn trời ngâm rằng:
Ngồi ôm gối đầu thuyền mòn mỏi,
Biết bao giờ khách mới ghé thăm,
Gió hiu hiu, sóng bập bềnh,
Giật mình choàng tỉnh vân mòng nào đâu.[7]

Như vậy, hai chữ bão tất (ôm gối) là một động tác không mấy thông dụng của người Trung Hoa, và thường chỉ là chính mình ôm gối mình, tiếng thông dụng gọi là ngồi bó gối. Trong lễ nghi nhà Thanh cũng chưa từng thấy cách nào gọi là “ôm gối” mà những sử gia Việt Nam thường “tán” là “như tình cha con”. Riêng Đại Việt quốc thư lại dịch thành “lễ ôm con vào thăm nhà vua” khiến chúng ta có cảm tưởng vua Quang Trung bế con vào thăm cha già mẹ yếu. Bản Đại Nam liệt truyện chép là bảo tất (đúng ra phải là bão tất), dường như có vẻ dịch theo nguyên văn, Hoàng Lê Nhất Thống Chí thì chúng tôi không có bản chính nên không thể so sánh. Riêng bản dịch lá thư biện bạch việc cầu hôn thì có lẽ ông Mai Quốc Liên cũng dựa theo sử sách mà dịch là ôm gối mặc dù nguyên văn viết là bão kiến) theo nguyên văn ở cuối sách như sau:
Chúng ta hãy đi lại cho lớp lang để xem lại bang giao Việt - Thanh thời kỳ đó như thế nào trước khi đi đến một kiến giải về hình thức đón tiếp này. Chi tiết của tiến trình đàm phán, những văn từ chiếu biểu liên quan đến vấn đề đã được phiên dịch và chú thích đầy đủ trong Khi Núi, Đất, Biển là Một, ở đây chỉ tóm lược một vài nét chủ yếu.

I - Vua Quang Trung cầu phong
a) Thời kỳ căng thẳng
Sau thất bại của Tôn Sĩ Nghị, nhà Thanh dẫu muốn tiến đánh nước ta một lần nữa, tình thế không chắc đã hơn những chiến dịch chinh phục Miến Điện (có thể còn vất vả hơn), chi phí nặng nề mà mối lợi chưa thấy đâu cả.


Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị là một văn quan người Hán, đường họan lộ hơi chậm trễ lúc nào cũng mong hợp tác với người Mãn Châu.

Chính vì lẽ đó, ngay từ đầu, sau khi lượng giá tình hình, đình thần nhà Thanh đều “chủ hòa”. Sau khi Tôn Sĩ Nghị bị triệu hồi về kinh, tình hình giữa hai bên bớt căng thẳng, nhà Thanh lập tức thay đổi thái độ nên việc phong vương cho vua Quang Trung trở thành một nghi lễ cần thiết, một phần để vua Càn Long chữa thẹn cho chính mình, một phần chính vì Trung Hoa muốn tuyên oai vương đức cho các chư hầu biết là phương nam đã thần phục hầu khỏa lấp chiến thắng quân sự vang dội của Đại Việt. Trước đây, nước ta thường chỉ ở vai trò phiên thuộc bậc hai, có khi còn thấp hơn nữa. Đời Mạc và Lê trung hưng, vua ta chỉ được phong làm An Nam đô thống sứ, kèo nài mãi mới được phong An Nam quốc vương. Người Tàu lại ldùng nghi lễ phong vương như một cơ hội để hống hách, doạ nạt mà triều đình nước ta luôn luôn phải nhịn.[8]

Cứ theo sử sách, người Trung Hoa luôn luôn nhìn về phương nam như một nơi man di mọi rợ, ma thiêng nước độc mà tướng lãnh nào cũng e ngại khi phải cầm quân chinh phục. Người ta thường đồn rằng nước ta có chướng khí gọi là mộc tê chướng hay hoàng mao chướng, một năm chỉ có mùa đông là đỡ hơn còn ba mùa xuân, hạ, thu đều thịnh. Chướng khí này hẳn là bệnh sốt rét vàng da mà chính người Việt cũng sợ khi phải lên những vùng rừng núi. Người Tàu lại e ngại dân mình tính tình bất khuất, cứng cỏi không bao giờ chịu để người ngoài vào cai trị, sớm muộn cũng nổi lên giành quyền tự chủ, từ nghìn xưa vẫn thế.
Phúc Khang An khi vừa đáo nhậm chức tổng đốc Lưỡng Quảng liền tâu lên:
"Địa phương nước này (tức nước ta), từ bắc xuống nam ba nghìn dặm, từ đông sang tây hai nghìn dặm, chặng đường phải nhiều, việc kéo quân đi khó mà có thể nhanh được, huống chi nơi đó khí hậu bốn mùa, chỉ có ba tháng mùa đông, chướng lệ không nổi lên, còn ba mùa xuân, hạ, thu kia, đều có sương độc mù mịt, không thể nhiễm được, chẳng khác gì Miến Điện.[10]
Nếu như kéo đại quân qua, thì ắt phải tiến binh vào tháng mười, tháng mười hai phải thắng, tháng giêng năm sau trở về, có thế mới vạn toàn không nguy hiểm. Khổ nỗi việc quân lữ, đâu có thể nào định trước thời gian, nếu như trong ba tháng việc chưa xong, đến mùa xuân rồi, chướng khí bùng lên, nếu triệt binh thì công lao từ trước coi như bỏ đi, lưu binh thì thương vong hẳn lớn. Thành thử chẳng nên dụng binh đất An Nam, không những địa lợi không tiện, nhân sự không hợp, mà chính vì thiên thời có giới hạn.
Từ xưa đến nay, chưa bao giờ thành công cũng là vì lẽ đó, hiện nay Nguyễn Huệ có thù với họ Lê, khiến phải lao khổ đến binh lính chúng ta, phí tổn lương hướng. Thế nhưng đại binh tiến quan chưa bao lâu, gã tù (trưởng) kia mấy lần xin hàng, rõ ràng là trước khi kháng cự, (cũng như) sau khi thua (?) trận, lúc nào cũng tỏ vẻ sợ hãi. Xem biểu văn thấy trong đó y xưng là kẻ áo vải đất Tây Sơn, rõ ràng không có ý chiếm nước của người khác, cũng không có ý chống lại, đủ biết không dám đắc tội với thiên triều.
Thế nhưng lời của y cũng vẫn còn mù mờ, chưa hẳn có thực không kháng cự hay chăng, cần phải phân biện rạch ròi, còn như như y xin đã cho ngay, e rằng gã tù trưởng này kiêu ngạo, gian dối đã quen, dần dà lại đâm coi thường cả Trung Hoa".



Tổng đốc Mân Triết Phúc Khang An, một đại thần thế gia vọng tộc người Mãn Châu, điển hình vốn sinh ra đã làm quan

Theo sử nhà Thanh, một mặt Phúc Khang An nhờ Ô Đại Kinh đưa thư hăm dọa, một mặt điều quân đến Trấn Nam Quan phòng ngự quân Tây Sơn tấn công qua. Quả thực sau trận chiến đầu năm Kỷ Dậu, tình hình giữa hai quốc gia rất căng thẳng, vua Quang Trung cũng chưa dám rút quân về Phú Xuân và vẫn còn trong tình trạng củng cố lực lượng để đề phòng quân Thanh mở một cuộc tấn công kế tiếp. Ông đã cho đắp một ‘thành lũy bằng đất quanh điện vua Lê, dày 20 piê (bộ)” trong ba ngày ba đêm liền [11].
Ngoài ra ông còn bố trí những đạo quân từ Thăng Long dọc lên biên giới khiến dân chúng hoang mang và việc quân Thanh tập trung ở Trấn Nam Quan cũng tạo nên mối kinh hoàng cho dân cư ở khu vực này. Nhiều người sợ vạ lây nên đã tìm cách tránh khỏi vùng lửa đạn. Hai bên “giữ miếng” như thế nhiều tháng trời cho tới khi Trung Hoa công nhận triều đình Quang Trung và xúc tiến những thủ tục phong vương. Trong nhiều tháng trời, hai sứ thần của ta là Nguyễn Hữu Chu (Trù) và Vũ Huy Tấn (Phác) phải chạy đi chạy lại từ Thăng Long lên Lạng Sơn đến bảy lần rất vất vả.

b) Thời kỳ hòa hoãn
Hai bên qua lại, sau cùng Thang Hùng Nghiệp nhượng bộ, thấy quả nước ta có ý cầu hòa nên bằng lòng để Nguyễn Hữu Chu về tâu lại với vua Quang Trung diễn tiến đàm phán còn Vũ Huy Tấn ở lại quán dịch tiếp tục thương thảo.
Nhà Thanh thấy tình hình bắt đầu hòa hoãn, không khỏi đưa thêm một số vấn đề trong tiến trình nghị hòa trong đó nhấn mạnh hai điều kiện, một là trao trả lại những người đã bị quân ta bắt được trong trận đánh, hai là giao lại phần đất mà trước đây vua Ung Chính đã trả lại cho nước ta. Trong một thời gian vài chục năm hồi đầu thế kỷ 18, nhà Thanh đã chiếm của Đại Việt một số đất lấy sông Đổ Chú để phân chia ranh giới.

Nguyên đời Lê Gia Tông, Vũ Công Tuấn làm phản ở Tuyên Quang bị triều đình đánh đuổi chạy sang Tàu, đem ba châu của nước ta (Vị Xuyên, Bảo Lạc, Thủy Vĩ) xin sáp nhập vào tỉnh Vân Nam để nhờ nhà Thanh che chở, trong đó có cả mỏ đồng Tụ Long thuộc châu Vị Xuyên. Nước ta nhiều lần đòi lại nhưng Thanh triều không chịu trả. Đến năm 1728, sau khi quân Việt đánh lui được đạo quân Vân – Quí tràn qua để bảo hộ mỏ đồng, vua Ung Chính đành phải nhượng bộ trả lại 40 dặm cho Đại Việt [12]. Nhân dịp vua Quang Trung xin phong vương, Thanh triều đã kèm theo như một điều kiện phụ nhưng sứ bộ Đại Việt đã gạt đi không chấp thuận.
Cuộc chiến tranh ngoại giao đó mỗi bên nhìn một khác, bên nào cũng cho rằng mình chiếm được thượng phong so với bên kia. Dù muốn dù không, vua Quang Trung cũng còn nhiều vấn đề nội bộ chưa giải quyết xong, việc được nhà Thanh công nhận làm An Nam quốc vương sẽ là một thắng lợi lớn, ít nhất cũng khuất phục được những người dân Bắc Hà khi đó chưa biết phải theo bên nào cho phải, đồng thời củng cố được vị thế để tiến hành những bước kế tiếp, loại trừ những thế lực thù nghịch.

Trong cuộc đấu tranh ngoại giao ấy, tuy phải lúc cứng, lúc mềm Nguyễn Huệ đã có những biến chuyển rõ rệt. Trước đây, khi hành sử vai trò một tướng lãnh, ông tuy xuất sắc trong nhiệm vụ quân sự, song việc hành chánh và chính trị lắm khi thiếu uyển chuyển. Điều đó cũng dễ hiểu vì bản thân ông và những cận thần đều là võ tướng, đa số thuộc hàng thảo mãng, chủ yếu là những đầu lãnh trước kia theo anh em ông khi còn ở Tây Sơn, hoặc những người có liên hệ thân thích, gần xa ở Qui Nhơn. Đến lúc này, Nguyễn Huệ đã nhìn thấy rằng muốn tiến xa hơn, ông phải thoát xác để thành một vì vua sáng nghiệp mà việc đầu tiên là thu phục được thành phần sĩ phu, thiết lập được bộ máy hành chánh để dần dần thay thế đám tướng lãnh đang nắm quyền tại địa phương.

Bên trong việc bang giao Hoa Việt thời kỳ đó chắc chắn còn nhiều vấn đề mà chúng ta không thể biết hết nhưng tựu trung vua Cao Tông đã có một kế hoạch từ trước, đưa Phúc Khang An thay Tôn Sĩ Nghị vừa để tạo một sức ép về quân sự, vừa chỉ định một con người ngoại giao đứng ra để đàm phán với Đại Việt. Đối chiếu bài biểu dưới đây với di cảo qua lại mà nay còn giữ được, ta thấy vua Quang Trung đã khôn khéo loại bỏ hết những đoạn có tính chất khiêu khích, hạch tội đối phương [13].

Xét về văn chương cũng như ngoại giao, bản văn cầu phong của vua Quang Trung không hạ mình mà cũng không hợm hĩnh, thích hợp hơn với thực tế để làm dịu xuống một tình trạng đang căng thẳng. Chướng ngại trong giao thiệp Việt Hoa là Tôn Sĩ Nghị thì lúc này không còn tại chức, và mục tiêu của vua Quang Trung là muốn yên một bề, vừa tránh được việc can qua với Thanh triều để tập trung đối phó với những kẻ thù ở phía tây và phía nam, vừa chính thống hóa vai trò của mình với dân chúng xứ Bắc Hà. Lẽ dĩ nhiên bên cạnh việc đàm phán,
Vua Quang Trung cũng không quên tiếp xúc với các đại thần và những người thân tín của vua Càn Long nhưng đó không phải là lý do chính mà nhà Thanh chấp nhận phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương.

c) Chính thức cầu phong
Ngày 22 tháng 2, sau khi nhà Thanh đã đánh tiếng là họ bằng lòng phong vương cho vua Quang Trung, phái bộ Đại Việt tất cả hơn 20 người, do Nguyễn Hữu Chu cầm đầu, từ Thăng Long đi lên, mang tờ biểu cầu phong đồng thời chuẩn bị lễ lạc và dự bị tiệc mừng, đánh dấu một thắng lợi vẻ vang trong bang giao giữa hai nước.
Lá thư chính thức đó nguyên văn như sau:

Thần là tiểu mục nước An Nam Nguyễn Quang Bình mạo muội kính cẩn đem tấm lòng thành tâu lên mong đại hoàng đế bệ hạ (là bậc) thụ mệnh sáng như trời, vua của vạn quốc, ở trên ngôi báu đã trên năm mươi năm, hồng ân rải khắp mọi nơi Hoa cũng như Di đều được thấm nhuần, (cả đến) nước An Nam của thần tuy ở chỗ viêm nhiệt xa xôi cũng từng được tắm gội, (xin) lấy đức lớn mà nghe cho.
Hai trăm năm qua, quốc vương họ Lê (nước tôi) mất quyền khiến cho quyền thần họ Trịnh coi giữ việc nước, đến vua trước là Lê Duy Đoan tuổi già, phụ chính họ Trịnh hèn yếu, binh kiêu dân oán, khiến người trong nước chia rẽ ngả nghiêng. Thần là kẻ áo vải đất Tây Sơn (vì thế) phải tùy thời mà dấy lên, mùa hạ năm Bính Ngọ, hưng binh diệt họ Trịnh, trả lại nước cho họ Lê. Trong năm đó tiền vương tạ thế, thần lại đưa tự tôn là Duy Kỳ lên nối ngôi. Duy Kỳ là người dâm bạo [15], không lo quốc chính, mối giềng lỏng lẻo bên trong, lân bang gây hấn ở bên ngoài, chỉ lo hãm hại trung lương, giết người trong họ, người trong nước cũng như bầy tôi đều chạy về với thần, xin xuất binh trừ loạn.
Thần vẫn biết rằng nước đây đã được thiên triều sách phong, đâu dám tự ý phế lập. Mùa đông năm Đinh Mùi mới sai một tiểu tướng đem binh ra hỏi tội bọn tả hữu dám giúp cho kẻ Kiệt kia, hay đâu Duy Kỳ mới nghe tiếng đã bỏ chạy, tự mình làm khổ mình. Đến mùa hạ năm Mậu Thân thần đến Lê thành, đưa con của vua trước là Duy Cẩn trông coi việc thờ tự và giám quốc, rồi sai người sang gõ cửa quan trình bày mọi việc trong nước.
Khi đó người biên thần (chỉ Tôn Sĩ Nghị) lại trả lại thư, đuổi sứ về, không chịu đề đạt lên. Mùa đông năm ngoái y lại điều động đại binh, xuất quan qua đánh, thần ở xa nghe tin, tự nghĩ xưa nay một lòng kính sợ thiên triều, định đem tấc lòng giãi bày lên trên, nên mới bảo vương tử Lê Duy Cẩn và thần dân gõ cửa trình ba bẩm văn, ngờ đâu đại binh tiến thẳng đến Lê thành, giết binh trấn giữ nhiều vô số kể.
Thần chẳng biết tiến thoái ra sao, việc đó chính là do Lê Duy Kỳ không biết tính toán, nên đến ngày mồng năm tháng giêng năm nay tiến đến Lê thành, đâu có dám chống cự lại quan binh. Thế nhưng quan binh tàn sát quá lắm, thế không thể thõng tay chịu trói nên đành chống trả. Việc đó cũng khiến cho thần sợ hãi nên đã đem những kẻ dám đối địch chính pháp cả rồi.
Cũng mong đại hoàng đế theo mệnh trời hành hoá, tài bồi cho kẻ ngả nghiêng, thuận theo tự nhiên, tha thứ cho kẻ man di không biết, thấu cho lòng thành của kẻ cầu xin được chăn dắt ở một cõi mà để cho thần được đứng chắn ở một phương, làm chư hầu tuân phục thì mọi sự được thống nhiếp, dân chúng được yên ổn làm ăn, cũng đều do đức nhân của đại hoàng đế ban cho cả.
Thần nguyện triều cống theo lệ phiên vương, dâng biểu chí thành, hướng về phương bắc, không khỏi cảm kích trông đợi mệnh lệnh kính cẩn dâng lên tờ biểu này.
Cung kính đệ lên tiến vật gồm mười dật vàng, hai mươi dật bạc.
Cung kính sai hai hành nhân là Nguyễn Hữu Chu, Vũ Huy Phác.
Càn Long năm thứ 54, tháng hai.

Đây là lần đầu tiên sau cuộc chiến, cửa ải Nam Quan được chính thức mở ra để đón phái bộ Đại Việt. Chính vì thế hai bên phải tổ chức đại lễ để tiễn đưa và để đón sứ thần qua Trung Hoa, chánh phó sứ không còn phải đến gõ cửa như những lần qua đàm phán trước đó. Trước khi sang Tàu sứ bộ Đại Việt nghỉ tạm ở một công quán có tên là Ngưỡng Đức Đài bên trong lãnh thổ nước ta (Ngưỡng Đức Đài ở bên này cửa ải Nam Quan, đối xứng với Chiêu Đức Đài bên phía Trung Hoa). Theo Đại Nam nhất thống chí và Phương Đình địa dư chí, năm Giáp Thìn (1784) đời Lê Hiển Tông, đốc trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang đã tu bổ lại, lợp ngói cho khang trang.
Trước hết, chánh sứ Nguyễn Hữu Chu sai người qua ải cùng quan lại nhà Thanh ấn định nhật kỳ cử hành lễ, Thang Hùng Nghiệp cho biết nhà Thanh định vào ngày 18 tháng 3 năm Kỷ Dậu [16], tức là chỉ hơn 2 tháng sau khi Tôn Sĩ Nghị thua trận chạy về. Với tình hình liên lạc thời đó, việc chạy đi chạy lại giữa Bắc Kinh và Quảng Tây diệu vợi, gian nan trong 2 tháng nhà Thanh đã chấp thuận phong vương, quả thật đây là một thành tích xưa nay chưa từng có.
Ngày 16 tháng 3, tổng đốc Phúc Khang An đem quan binh bản bộ đến đóng ở cửa Nam Quan, một mặt truyền cho tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh xây một lễ đài (mà sử Trung Hoa gọi một cách phách lối là thụ hàng thành), cách cửa ải 90 dặm. Các quan nhà Thanh thì đóng tại một vị trí cách ải 20 dặm để trông coi việc nghi thức, sau đó Thang Hùng Nghiệp mới cho mời sứ thần nước ta qua tương kiến.
Đến kỳ hạn, phái đoàn ta qua ải, Thang Hùng Nghiệp liền tiếp vào nghỉ tại Chiêu Đức Đài (đối xứng với Ngưỡng Đức Đài của nước ta) để thảo luận về nghi thức. Chánh sứ nước ta đưa ra một phó bản của biểu văn cầu phong, kèm theo lễ vật, thổ sản gửi cho vua Thanh cũng như các quan lại làm quà ra mắt. Trong biểu văn này, vua Quang Trung cũng đặc biệt ghi thêm “sẽ sai con trưởng của anh cả Nguyễn Quang Hoa là Nguyễn Quang Hiển” [17] theo sứ bộ đi sang để tỏ lòng thành. Phúc Khang An đọc biểu văn, tuy đã hoàn toàn đồng ý nhưng cũng sửa đổi vài chữ để cho sứ bộ nước ta viết lại một bản khác gửi về triều đình nhà Thanh coi như chính thức thần phục.

***
Thì mụ chữ tôi lại “bộc bạch” nữa đây: Chuyện là phái bộ đi sứ thời cụ vua Quang Trung ta có tới cả trăm người năm Kỷ Dậu, Ngô Thời Nhậm đi sứ ba lần qua nhà Thanh trong một năm dưới thời cụ vua Quang Trung ta đã làm bài thơ:
Nhất niên tam độ đáo Nam Quan
Mai tuyết xâm nhân mấn dĩ ban
Giản thạch mãn trang du tử thác
Sơn khê tấn tống sứ quân an
Dịch nghĩa là: “Một năm ba lần trở lại Nam Quan - Tuyết bám người tóc đốm bạc – Đá suối đầy túi lãng tử - Khe núi tiễn đưa sứ quân an lành”.
Trong mập mờ nhân ảnh mịt mùng gió mây, ngộ chữ tôi bật ra “bút ký” đi sứ của các cụ ta xưa có tựa đề: Thứ nhất đi sứ, thứ nhì di quan.  Trong tâm trạng của một kẻ táo bón kinh niên về văn chương nên mụ chữ tôi dài hơi dầy chữ thế này đây
“…Nhớ hoa vàng mấy độ, những đường cỏ lá lại nhớ cụ Nguyễn…(Nguyễn Du)
Chả là khươm mươi niên trước, qua cỏ hoa lạc lối trong văn sử đầy cỏ dại, một tôi đi tìm…ải Nam Quan. Vì như sử gia nhà Nguyễn đã ghi chép: “Ải quan được tiền nhân dựng lên từ bao giờ, không tìm thấy trong sử sách, trong truyền thuyết dân gian”.
Vì chưng phải tới tận nơi thực mục sở thị nên một tôi hồi cố quận để tìm… cụ.

Dưới gốc cây đa ngay cạnh có cái chiếu. Bấu vào mặt một tôi là một cụ để móng tay dài, tóc búi tó, áo lương khăn lượt, đang đọc cổ thư. Nghe một tôi muốn làm…biên tu, là chức hàm trong hàn lâm viện, giữ việc soạn sử với hàm chánh thất phẩm. Là muốn…làm văn sử. Cụ hỏi bút danh viết chữ của một tôi? Đang cơn cuồng hứng, một tôi tầm chương trích cú: Trong Hải mạn du ký của cụ Tiêu đẩu Nguyễn Bá Trác, cụ kể khi lưu lạc ở bên Tàu…
(…) Một hôm trời đã chiều hôm, hiu hiu gió bể, chúng tôi (tác giả và người bạn là Nguyên quân) cao hứng muốn vào tửu lâu, tôi cũng hợp ý; bèn thuê xe đến ngay Đào Đào quán ở trong tô giới Thượng Hải. Nguyên quân đã uống say thì hay hát nghêu ngao mấy câu cổ phong. Tôi hỏi ấy là điệu gì vì nghe tiếng bi mà tráng, khảng khái, phương Nam có điệu hát đến như thế ru. Hỏi rồi, liền gọi thằng hầu lấy bút giấy, xin Nguyên quân viết bài hát.
Nguyên quân cầm bút viết ngay: “Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu…(…).

Kể có đầu có đũa rồi, một tôi dây cà ra dây muống Nguyên quân và cụ Nguyễn Bá Trác viết cho báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Và Nguyên quân lấy bút hiệu là “Sở Cuồng”. Nghe thủng rồi, cụ cười dín vì ai biết quan đái mà hạ võng, vì một tôi chưa đọc Bắc sứ thông lục của cụ Tổng tài quốc sử quán Lê Quý Đôn, làm sao viết văn sử cho ra hồn ra cốt:
(…) Sáng hôm sau, tôi lên núi Liên Hoa, lớp lớp trùng điệp, cây cối âm u, như lạc vào đường mê. Tôi ngồi nghỉ ở chỗ bậc đá, không thấy ánh sáng mặt trời, ngoảnh lại trông, các ngọn núi đều ở trong mây. Người đi khi lên khi xuống, khoảng 30 dặm mới đến đồng bằng. Thế đất bằng phẳng, không núi cao, rừng sâu hiểm trở, chỉ trông cậy vào cửa quan này thôi.
Ngày mồng một tháng ba, đi từ phủ Đồng Đăng, đến mồng 5 đến Trấn Nam Quan ở Bẳng Tường. Xét ra Trấn Nam Quan cách phủ trị Đồng Đăng 4 ngày đường. (…)
Ngày ấy “sở cuồng tôi” mới cuống cuồng ra ải Nam Quan nằm trên đất Tàu…”

***
Ngày 19 tháng 3, lúc giờ Dần, tổng đốc Phúc Khang An ra lệnh cho tướng sĩ trấn thủ ở Nam Quan dàn đội ngũ, dựng cờ quạt rồi bày hương án ở Chiêu Đức Đài để làm lễ tiếp nhận biểu văn của nước ta. Nguyễn Quang Hiển cùng với phái bộ mấy trăm người đã dự bị sẵn, Phúc Khang An sai Thang Hùng Nghiệp mời Nguyễn Quang Hiển cùng 6 viên chức của sứ bộ nước Nam, thêm một thông ngôn và 60 tùy tòng, tổng cộng 68 người tiến qua Trấn Nam Quan.[18]
Đến giờ Thìn, Thang Hùng Nghiệp dẫn phái đoàn tới, mời vào Chiêu Đức Đài. Phúc Khang An bước ra nghênh tiếp, sau nghi lễ tương kiến, phái đoàn nước ta do chánh sứ Nguyễn Hữu Chu đứng ra trao lại biểu văn, tổng đốc Lưỡng Quảng thay mặt Thanh đình tiếp nhận. Sau đó nhà Thanh mở đại tiệc khoản đãi sứ bộ nước ta, đích thân Phúc Khang An bồi tiếp. Trong câu chuyện ngoài lề, Nguyễn Quang Hiển cũng cho hay những kẻ phạm tội sát hại các tướng lãnh nhà Thanh đã bị xử tội rồi, Phúc Khang An nghe xong coi như việc đã giải quyết, đề nghị sau này không nhắc tới nữa, chỉ xin nước Nam lập cho một cái miếu, xuân thu cúng tế những binh sĩ nhà Thanh tử trận. Để chính thức hóa việc dâng biểu cầu phong, Nguyễn Quang Hiển sẽ thay mặt triều đình Quang Trung cầm đầu phái đoàn lên Bắc Kinh triều kiến hoàng đế và cho biết đến năm sau (Canh Tuất 1790), Càn Long thứ 55 là năm khánh thọ bát tuần của vua Thanh, vua nước ta sẽ đích thân sang chúc mừng cùng các sứ thần phiên thuộc khác.[19]

Đến đây, việc thông hiếu của hai nước coi như đã quyết định, những lễ lạc khác chỉ là thủ tục. Hai bên đồng ý giảm thiểu số quân trấn đóng tại biên giới. Ngày mồng 10 tháng 4 năm Càn Long thứ 54, vua Cao Tông ra lệnh cho Phúc Khang An rút các đạo quân Quảng Đông, Vân Nam đang trú đóng ở Quảng Tây về doanh trại. Tôn Sĩ Nghị sau khi thua trận, thân thể hư nhược, bị bệnh phong thấp lúc đó đang nằm dưỡng bệnh nay cũng được lệnh cho về Nam Ninh nghỉ ngơi, còn Phúc Khang An cũng không còn phải chầu chực ở Trấn Nam Quan nữa. Vua Quang Trung cũng ra lệnh cho các đồn ải giảm bớt quân số phòng ngự.

Tuy đã chính thức công nhận, nhà Thanh vẫn còn câu nệ về một số tiểu tiết, cốt để gây khó khăn cho bên ta. Ngày mồng 3 tháng 5 năm Kỷ Dậu, vua Cao Tông gửi cho vua Quang Trung một đạo dụ, xác định là không truy cứu những việc đã qua nữa, nhưng chưa thể phong vương vì Nguyễn Quang Bình (tên mới của Nguyễn Huệ) chưa thân hành sang chầu mà chỉ sai cháu là Nguyễn Quang Hiển thay mặt đem biểu tiến kinh để đón phong hiệu, lễ chế đó thiên triều chưa từng có. Nếu quả Nguyễn Quang Bình có bụng thành kính, chi bằng đợi khi vua Càn Long làm lễ bát tuần vạn thọ vào năm sau (Canh Tuất 1790) thì hãy thân hành sang Bắc Kinh để xin phong vương.
Sứ thần nước ta lại phải một phen biện bạch lời hơn lẽ thiệt để nhà Thanh thông qua những thủ tục nặng phần hình thức này. Sau cùng triều đình nhà Thanh đành phải dễ dãi, vua Cao Tông truyền lệnh Phúc Khang An báo cho Nguyễn Quang Hiển khởi trình tiến kinh, sai Thang Hùng Nghiệp hộ tống [20]. Ngoài ra vua Càn Long còn ban cho vua Quang Trung một chuỗi ngọc trai (trân châu thủ xuyến nhất quải) [21]. Trước đây sách vở vẫn dịch là một chuỗi ngọc trai đeo tay. Có hai vấn đề chúng ta cần ghi nhận:
- Thời này khi chưa có ngọc trai nhân tạo, trân châu là một sản phẩm cực hiếm trong thiên nhiên, thường do các phiên thuộc tiến cống. Được ban một chuỗi ngọc trai là một việc đặc biệt. Ngọc trai lại chỉ dành riêng cho vua chúa và nhất đẳng đại thần vì Nhà Thanh qui định rất chi ly hạng bậc, không lẫn lộn.
- Nhà Thanh có thói tục đeo chuỗi ngọc, gọi là triều châu, tùy theo cấp bậc y phục và trường hợp mà màu sắc, phẩm loại khác nhau (san hô, thanh kim thạch, lục tùng thạch, mật lạp, hổ phách ...). Chuỗi ngọc này để đeo vào cổ khi mặc triều phục, mỗi chuỗi bao gồm 108 hột do ảnh hưởng của niệm châu (số châu) của Lạt Ma giáo (tiếng nôm na gọi là tràng hạt). Ngoài triều châu ra, còn một loại vòng ngắn hơn chỉ có 18 hạt gọi là thủ xuyến không phải để đeo ở tay mà để đeo ở trước ngực (đàn ông) hay đeo vào áo (đàn bà) như một loại trang sức. Loại vòng này gồm 18 hạt châu và hai viên ngọc để phân cách, thường có thêm một giải ngọc đính vào. Nếu vua Quang Trung được ban thủ xuyến bằng ngọc trai (trân châu) có thể coi như là một món quà đặc biệt.
Đến đây mọi việc coi như đã an bài, triều đình nhà Thanh sẽ làm lễ trao ấn và sắc ở điện Thái Hòa để sứ thần nước ta đem về nước. Nhà Thanh cũng sẽ cho một sứ thần đi theo phái bộ đến Thăng Long làm lễ phong vương cho vua nước ta.

II - Phái bộ Nguyễn Quang Hiền
Trung tuần tháng 5, Nguyễn Quang Hiển từ Thăng Long đi lên Lạng Sơn. Phúc Khang An nhận được sắc thư và chuỗi trân châu liền sai người đem đến Trấn Nam Quan còn Thang Hùng Nghiệp lập tức cho người chạy sang Lạng Sơn yêu cầu Nguyễn Quang Hiển lên cửa ải tiếp chỉ.

***
“…Ngày tháng đắp đổi, khươm mươi niên sau, cuồng chữ tôi lại chấp mê bất mụ với các ông cống, ông nghè đi sứ qua những giai thoại…cứ như thật. Lang thang như thành hoàng làng khó cũng trở về Thăng Long ngàn năm văn vật có cây đa và cái chiếu.
Thấy sở cuồng tôi, cụ mắt như mắt thầy bói, cụ sờ mu rùa dậy cuồng chữ tôi đang ở dạng lập thân tối…”dạ” thị văn chương. Lại đang ở cái tâm thái “đại nghi đại mụ, tiểu nghi tiểu mụ, bất nghi bất mụ”, tạm hiểu Nôm là nghi lớn mụ lớn, nghi nhỏ mụ nhỏ, không nghi không mụ. Cụ đong đẩy cuồng chữ bộ đong chữ như đong thóc gì đây?
Đang trong tâm trạng của một kẻ táo bón kinh niên với chữ nghĩa, sở cuồng tôi thưa với cụ muốn có một thiên bút ký cho mai hậu. Ý đồ cuồng mộng tôi muốn theo bước chân phù lãng nhân trong cõi ngu lạc trường, là đi theo những bước chân đi sứ của các ông cống, ông nghè cả trăm năm trước với nghìn năm mây bay. Nhưng bụng dạ cứ óc bóc, vì kiếm cụ ở Thăng Long ngàn năm văn vật này đây không có người dẫn đường nên lạc túi bụi. Nào khác gì người Việt Thường mang chim trĩ đi cống sứ, ăn nói ngô nghê, khi về vua Tàu phải cho xe chỉ nam đưa về. Vừa nghe nói đến xe pháo, cụ móc cái điện thoại “Galaxy S6 Edge” ới cái xe con để làm một chuyến sang Tàu trong một ngày không có nắng sao có mưa.
Khi không cụ bàu bạu tối như hũ nút: “Thứ nhất đi sứ, thứ nhì di quan”.
     
Tiếp, cụ lấy bút giấy ra ghi chép… Dòm thấy cụ đang thu vén hành trang của sứ bộ nào là voi, võng đến chánh sứ, phó sứ, thông sự, y viên, v…v… Bèn hỏi sao có võng với voi. Cụ càm ràm là không hỏi thông sự, y viên lại hỏi con voi, cái võng. Rồi cụ vắn vỏi:
(…) Xưa thật là xưa, có một sứ thần ta đem cống vật sang triều cống theo lệ hằng năm. Đến Yên Kinh bị giữ lại tới 18 năm vì bút đàm hay ăn nói sao đấy. Thường các sứ thần ta, tuy tiếng Hán thông thiên địa nhân viết nho nhưng lại ít giao tiếp. Vì thế, thông thường khi đàm đạo phải bút đàm, nếu không có người phiên dịch tức thông sự. Người Minh ví sứ thần ta với Tô Vũ thời nhà Hán, đi sứ Hung Nô phải đi chăn dê 19 năm sau mới được về. Ông sứ thần trên, lúc đi vào đời vua Mạc Phúc Nguyên, lúc về đã sang đời vua Mạc Mậu Hợp. Cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn sau có viết lời cảm khái về ông: "Lúc ra đi tóc mây xanh mướt, khi trở về râu tuyết bạc phơ phơ!". Ông được vua Mạc Mậu Hợp phong tước Tô quận công, do chuyện đi sứ của ông chẳng khác gì chuyện Tô Vũ mục dương nước Tàu khi xưa... (…)

***
Ngày 25 tháng 5, sứ đoàn Đại Việt đến Chiêu Đức Đài đón sắc thư và quà của vua Thanh đem trở về trao cho trấn thủ Lạng Sơn Đinh Công Thái đem về Thăng Long.
Ngày 27 tháng 5, phái đoàn nước ta do Nguyễn Quang Hiển cầm đầu, tất cả là 21 người, từ nhà khách của tỉnh Quảng Tây do Thang Hùng Nghiệp dẫn đường đi lên kinh đô nhà Thanh. Hai mươi mốt người đó gồm có:[22]
- Ba vị sứ thần:
o Chánh sứ Nguyễn Quang Hiển
o Phó sứ Nguyễn Hữu Chu
o Phó sứ Vũ Huy Phác
- Bồi tòng 1 người:
o Nguyễn Ninh Trực
- Hành nhân 5 người:
o Trương Gia Nghiễm
o Phạm Bá Nhuận
o Tạ Hữu Định
o Nông Đình Cẩn
o Hoàng Huy Dực
- Tòng nhân 12 người:
o Hồ Văn Tòng
o Nguyễn Công Tuyết
o Nguyễn Văn Cự
o Nguyễn Văn Bản
o Nguyễn Văn Cơ
o Hoàng Văn Thành
o Lê Văn Trọng
o Ngô Viết Kiệt
o Nguyễn Văn Uyển
o Nguyễn Hữu Đễ
o Trần Văn Dũng
o Đỗ Đình Lập

Phúc Khang An còn đặc biệt phái thêm Đức Khắc Tinh Ngạch là phó tướng mới của Thái Hiệp tỉnh Quảng Tây theo hộ tống, còn bản thân ông ta khởi trình từ Nam Ninh, đến Quế Lâm ngày 11 tháng 5 (nhuận), và hôm sau, 12 tháng 5 thì Tôn Vĩnh Thanh cũng tới. Việc đưa phái bộ Nguyễn Quang Hiển lên Bắc Kinh là một biến cố trọng đại, do chỉ thị trực tiếp từ vua Cao Tông, do đó cả ba vị quan đầu hai tỉnh Lưỡng Quảng đều theo lên Bắc Kinh. Dù biệt đãi đó có thể do nhiều nguyên nhân, chiến thắng Kỷ Dậu cũng là một yếu tố quan trọng khiến cho Thanh triều thay đổi thái độ đối với nước ta.

***
“… Đến Lạng Sơn, chả lẽ ngồi đồng hoá Bụt, cuồng chữ tôi tiêu pha chữ nghĩa khi xưa các cụ ta đi sứ ghé biện sự sứ tại đây để nghỉ ngơi, xem xét hành trang trước khi sang Tàu. Biện sự sứ cũng là nơi các sứ thần phương Bắc dừng ở nơi này chờ người của ta đưa đường. Chỉ con sông Kỳ Cùng, cuồng chữ tôi tuồm luôm rằng sông Kỳ Cùng khi chảy trong địa phận nước ta có nhiều ghềnh thác, chỉ có thể đi lại bằng thuyền độc mộc hay bè bằng tre thôi.
Thế là cụ mắng cuồng chữ tôi như vặt thịt là nhĩ văn mục đồ, là tai nghe mắt thấy nhưng chả thấy khỉ gì sất… Cụ lực đực rằng sau khi dời kinh đô vào Phú Xuân, sứ bộ nước ta đi đường thủy đến Quảng Ðông nên không qua Nam Quan nữa. Lạng Sơn trước đây chỉ là một thị trấn hẻo lánh đến nay biến thành dịch trạm giữa hai nước. Sứ bộ ta trao đổi văn thư với quan lại nhà Thanh ở Quảng Tây gọi là hầu mệnh nghĩa là đợi lệnh. Sứ bộ ta phải qua trung gian tuần phủ Quảng Tây (là nơi có cửa Nam Quan qua lại của sứ thần) hay tổng đốc Lưỡng Quảng (là phong cương đại thần ở biên giới). Chánh sứ nước ta đưa ra phó bản của biểu văn cầu phong (nếu đi cầu phong), kèm theo lễ vật, thổ sản gửi cho vua Thanh cũng như các quan lại làm quà ra mắt. Nếu được họ đồng ý mới tâu trình về kinh đô. Khi chấp thuận thỉnh cầu rồi, vua Thanh sẽ hạ chỉ cho các quan lại địa phương sắp xếp ngày giờ, lo liệu tiếp đãi, đưa đón theo một lộ trình nhất định, và một thời biểu rõ rệt.
 
Nhằm vào một ngày nắng ong ong, mây đơ đơ…Cụ và sở cuồng tôi người hãy nhớ mang theo hành trang, lang thang như mây trời… ngược lên phương Bắc.
Trên xe, cụ cười hụt mà rằng các quan ta sợ “thứ nhất đi sứ, thứ nhì di quan”, vì đi sứ lỡ mất ở bên ấy thì sao. Như thời Lê-Mạc, Trạng nguyên Ðỗ Lý Khiêm làm chánh sứ, mới tới Bằng Tường đã mất tại đây. Hay thời Lê-Trịnh, sứ thần Thám hoa Giang Văn Minh bị vua Minh hành hình, mổ bụng nhét thủy ngân vào để hành nhân ta “di quan” về Lạng Sơn. Từ đây khiêng quan tài xuống thuyền, lên thác xuống ghềnh theo sông Thương về Thăng Long nên hành nhân ta vất vả không phải là ít. Nhưng cũng có ngoai lệ, thảng như Đốc đồng trấn Tuyên Quang Nguyễn Kiều đi sứ 3 năm may mà không nằm lại ở xứ người, nên ở nhà bà Đoàn Thị Điểm…nằm không dịch được Chinh Phụ ngâm khúc để lưu danh thiên cổ.
Hơ! Đến tao đoạn này, bất nghi bất mụ tôi lụi đụi tới Phan Huy Ích dịch giả Chinh Phụ Ngâm. Bởi bất nghi bất mụ tôi phiêu lãng quên mình lãng du tới chuyện con Phan Huy Ích là Phan Huy Chú sang Cao Ly lấy vợ. Chuyện trưa ngả sang chiều này sở cuồng tôi sẽ hặm hụi với cụ Nguyễn sau…Nom dòm sở cuồng tôi người ngợm cứng như bùi giời vì “di quan”, cụ cười khụng khiệng thế nào cũng có “bồi tiếp”, hiểu là “đánh chén” cho đã điếu…
(…) Thời đó việc giao dịch giữa Bắc Kinh và Quảng Tây xa diệu vợi, gian nan trong 2 tháng nhà Thanh mới chấp thuận phong vương cho Nguyễn Huệ. Ngày 16 tháng 3, Tổng đốc Phúc Khang An đem quan binh bản bộ đến đóng ở cửa Nam Quan.
(…) Ngày 19 tháng 3, lúc giờ dần, Tổng đốc Phúc Khang An ra lệnh dựng cờ quạt rồi bày hương án ở Chiêu Đức Đài để làm lễ tiếp nhận biểu văn của nước ta. Phúc Khang An sai Thang Hùng Nghiệp mời Nguyễn Quang Hiển cùng 6 viên chức của sứ bộ nước Nam, thêm một thông ngôn và 60 tùy tòng, tổng cộng 68 người tiến qua Trấn Nam Quan. Đến giờ thìn, Thang Hùng Nghiệp dẫn phái đoàn tới, mời vào Chiêu Đức Đài. Phúc Khang An bước ra nghênh tiếp, sau nghi lễ tương kiến, phái đoàn nước ta do chánh sứ Nguyễn Hữu Chu đứng ra trao biểu văn, tổng đốc Lưỡng Quảng thay mặt Thanh đình tiếp nhận. Sau đó nhà Thanh mở đại tiệc khoản đãi sứ bộ nước ta, đích thân Phúc Khang An bồi tiếp…”

***
Ngày mồng 9 tháng 6 năm Càn Long thứ 54, phái đoàn nước ta vào huyện Bồ Kỳ tỉnh Hồ Bắc, tuần phủ Hồ Bắc là Huệ Linh đã phái ủy hán đạo Hoàng Đức là Mạnh Ngọc, tri phủ Võ Xương là Mục Thông A, thủ doanh tham tướng Võ Xương là Lặc Phúc qua lại chiếu liệu.

Ngày 12 tháng 6, phái đoàn nước Nam đến tỉnh thành, tổng đốc Hồ Quảng là Tất Nguyên dẫn các ti thuộc ra nghênh đón, sau đó cho bày tiệc, tổ chức hát bội tiếp phái đoàn, lại đem các loại gấm vóc, tơ lụa ra tặng. Tơ lụa Hồ Châu vốn dĩ nổi danh trong thiên hạ, các quan lại nhà Thanh đón tiếp Nguyễn Quang Hiển trọng hậu như thế quả là một vinh hạnh từ xưa đến nay chưa từng thấy trong lịch sử Việt Nam.
Ngày 17 tháng 6, sứ thần nước ta vào đến châu Tín Dương tỉnh Hà Nam, tuần phủ Hà Nam là Lương Khẳng Đường phái Vạn Ninh thuộc đạo Nhữ Quang và tri phủ Nhữ Ninh là Bành Như Cán ra nghênh đón tiếp đãi.
Ngày 29 tháng 6, phái đoàn lại từ phủ Chương Đức khởi hành đi Phong Lạc, khi ấy nước sông Chương Hà đang dâng cao, thuyền không thể qua được, đợi đến ngày mồng 1 tháng 7, nước bắt đầu rút, tri phủ Chương Đức là Lý Chu đưa phái đoàn sang ngang tới tận Từ Châu, tỉnh Trực Lệ mới quay về.
Ngày mồng 6 tháng 7, đi đến Chính Định, ngày 13 tháng 7 thì đến tỉnh thành, các quan lại dọc đường nơi nào cũng đều đãi tiệc, diễn tuồng, tặng quà rất hậu hĩ.

***
“... Cụ và sở cuồng tôi đi Bằng Tường trong tâm thái mưa vẫn mưa rơi trên tầng tháp cổ…Dấu tích cổ kính ải Nam Quan như nằm ở đâu đây trên đất Tàu mà cụ Bảng nhãn Lê Quý Đôn đã ghi ấn tích trong “Bắc hành thông lục”: Đi từ phủ Đồng Đăng đến Trấn Nam Qua là 4 ngày đường…Trong cái tâm trạng đì tìm ải Nam Quan cổ kính rêu phong cả mấy trăm năm trầm tích như đi vào đất Thục. Cụ giục giặc nào có khác chuyện Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đi sứ, vì mưa gió sứ bộ đến cửa Nam Quan chậm một ngày. Quan ải không cho mở cửa để sứ bộ qua. Cụ trạng Mạc nói mãi chúng cũng không chịu. Sau đó họ ném từ trên cửa ải xuống một vế đối, bảo đối được sẽ mở cửa cho qua, nếu chưa đối được hãy ở tạm bên dưới qua đêm, đợi đến sáng hôm sau. Vế ra đối viết:
- Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan
(tới cửa ải chậm trễ, cửa ải đóng, người coi ải đóng cửa không cho khách qua)
Cái khó nó bó cái khôn ở chỗ trong 11 chữ của vế đối mà có tới 4 lần nhắc lại chữ “quan”. Vế đối hóc búa ở chỗ có các điệp từ “quan” và “quá” ngoắt nghoéo nhau.
Cụ trạng Mạc thấy khó mà đối lại, nhưng cụ nhanh trí để đối mẹo như sau:
- Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối
(ra vế đối trước thì dễ, đối lại mới khó, xin mời ngài đối trước).
Vế đối của cụ có 4 chữ “đối” và 3 chữ “tiên” quả là hay, nên viên quan coi ải mở cửa ải để sứ bộ của cụ trạng Mạc đi qua vào giữa đêm.

Kể xong, cụ om thòm trời đất um thủm, không có đèn đóm nên cụ trạng Mạc cứ toét mắt ra mà đọc. Quan ải lại là người bất chấp quân lệnh, chỉ vì một vế đối mà dám mở cửa ải cho sứ bộ qua lúc nửa đêm! Vì ải quan chỉ mở đón sứ thần khi có lệnh từ kinh đô với lễ nhạc chào đón. Ha! Trong tàng kinh các của sở cuồng tôi có tẩm ảnh ải Nam Quan xưa cũ. Bất nghi bất mụ tôi đổ đom đóm mắt chỉ thấy hai cái cửa tò vò tròn như con quay to bằng cái giạng đái, chả lẽ để ải quan nhòm ra đối đáp với thả câu đối? Nên cuồng chữ tôi…cuồng ngôn với cụ giai thoại chỉ là “hiện thực giả, hư cấu thật” thôi.
1 - Theo “Ðại Nam nhất thống chí”, ải là cổng gỗ 2 cánh có từ thời nhà Tống, nằm giữa bức tường gạch và đá nối liền hai ngọn núi. (phía đông là dải núi đất, phía tây là dải núi đá Kim Kê)
2 - Ảnh chụp là ải được dựng lại vẫn ở chỗ cũ thời Gia Tĩnh nhà Minh 1522-1566.có tên Trấn Nam Quan.
3 – Pháp gọi là “Cổng Tàu”, ta gọi là Ải Nam Quan bị tướng Francois Oscar De Négrier trong ủy ban phân định biên giới Pháp-Thanh, giật sập năm 1885.
    
Nghe như đấm vào tai với chữ nghĩa tân hình thức, hậu hiện đại hiện thực giả, hư cấu thật xong…Nhưng cụ cũng tâm đắc với xưa các cụ nhà Nho ta học chữ Tàu và đọc theo âm Hán Việt nên phải phải bút đàm. Việc đối đáp giữa sứ thần hai nước mang tính chất văn chương chỉ nên xem là giai thoại vì phần nhiều được thêm thắt theo truyền khẩu trong dân gian. Vì các sứ thần không thể đối đáp bằng “tiếng Hán âm Việt” nên “Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ” của triều Nguyễn chép rõ những quy định bang giao và quy định rõ phải có một “thông ngôn sứ”, đảm trách việc phiên dịch giữa sứ thần và triều đình nhà Thanh…”

***
Ngày 24 tháng 7, phái đoàn nước ta đến hành tại (nơi vua ở khi tuần du khỏi hoàng thành) ở Nhiệt Hà. Chánh sứ Nguyễn Quang Hiển, phó sứ Nguyễn Hữu Chu, Võ Huy Tấn [23] cùng tất cả phái đoàn vào chầu, vua Cao Tông cho ngự quyển là A Thắng Cảnh gọi vào triều kiến.
Phái đoàn ta làm lễ chiêm cận (tức lễ ra mắt nhà vua) xong, vua Cao Tông liền mở tiệc đãi yến chung với các vương công đại thần, các bối lặc, bối tử Mông Cổ, các ngạch phò (con rể vua), đài cát ... Sau khi ăn uống, nhà vua lại cũng cho tất cả các vương công, đại thần và quan khách xem hát bội [24]. Vua Cao Tông đặc biệt ban thưởng cho vua Quang Trung tượng Quan Âm bằng ngọc, cây như ý bằng ngọc, gấm thêu chỉ vàng đính hạt châu ... Còn Nguyễn Quang Hiển cũng được ban thưởng ngọc như ý, tượng La hán bằng sứ, gấm thêu chỉ vàng, hộp bằng bạc
(…)
Sau khi triều kiến vua Cao Tông, phái đoàn Nguyễn Quang Hiển lên đường trở về kinh đô [28], các đồ dụng được vua ban đều do bộ Lễ đảm trách việc mang đi.

Ngày 22 tháng 8, nhà Thanh tổ chức đại lễ trao sắc phong cho phái đoàn nước ta ở điện Thái Hoà. Nghi lễ do các đại thần lưu lại ở kinh đô sắp xếp, còn bằng sắc, ấn tín An Nam quốc vương thì bộ Lễ cũng đúc sẵn. Nguyễn Quang Hiển ở trước bệ rồng thay mặt vua Quang Trung nhận lãnh, hai vị quan đầu triều là Võ Anh Điện đại học sĩ A Quế [29]  trao ấn, còn Văn Uyên Các đại học sĩ Kê Hoàng [30]  trao sắc, nghi thức do các tán lễ lang nhà Thanh hành sự.
Bức tranh khắc đồng tựa đề:
“Nguyễn Huệ khiển diệt Nguyễn Quang Hiển nhập cấn yến chi đồ”

Nguyễn Quang Hiển (áo màu tím đỏ) bên cạnh là thông sự, phía sau là hai phó sứ (áo cũng màu tím đỏ), hàng sau cùng là năm bồi thần (áo màu đỏ)



Buổi lễ đưa biểu xin phong vương

Để tỏ thiện chí, trước đó vua Quang Trung trả về cho nhà Thanh hơn 500 binh sĩ bị bắt trong trận đánh, trong số có đề tiêu du kích tỉnh Quảng Đông là Trương Hội Nguyên, thủ bị Lao Hiển. Hai người này trước đây Tôn Sĩ Nghị đã báo cáo là tử trận. Tất cả các binh sĩ được thả về đều phải khai báo với quan nhà Thanh về sự tình đã xảy ra mà chúng ta đã có dịp biết qua để dựng lại chi tiết trận đánh Thăng Long ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu. Qua những lời khai, chúng ta cũng biết nhà Tây Sơn có một chính sách khá khoan hồng với tù binh, hơn hẳn cách đối xử tàn nhẫn của Tôn Sĩ Nghị chặt đầu những người bị bắt chỉ nhằm mục đích gia tăng chiến công của y, bất kể đến những qui luật tối thiểu.
Việc trao trả một số tù binh cũng khiến cho tự ái vua Càn Long và đình thần nhà Thanh được xoa dịu, Phúc Khang An cũng được tiếng là khéo thu xếp. Sau đó, nhận thấy tình thế đã thuận chiều, vua Quang Trung lại cho trả về thêm 39 người, lần thứ ba bên ta thả thêm 28 người nữa và sau cùng 18 người [31]. Về phía nhà Thanh, để đáp lại thiện chí của nước Nam cũng trả bọn Chu Đình Lý 7 người về (một người là cai kỵ Nguyễn Viễn Du - chết vì bệnh khi bị giam).

Sau khi nghi lễ trao sắc ấn hoàn tất, phái bộ Nguyễn Quang Hiển lưu lại kinh đô thêm 2 ngày, người nào cũng mua nhân sâm đem về nước làm quà. Ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Dậu, phái đoàn lại lên đường trở về nước.
Ngày 12 tháng Một, Ngô Văn Sở và Nguyễn Văn Danh đưa các vệ sĩ và chuẩn bị long đình đến đón nhận sắc ấn chỉ) ở Nam Quan. Cũng dịp này, Ngô Văn Sở lại nhờ quan nhà Thanh tâu lên để ông được cùng với quốc vương tới kinh đô vào năm sau

III - Lễ phong vương cho vua Quang Trung
Vua Cao Tông sau khi phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương liền truyền chỉ cho Phúc Khang An cử quan lại người Mãn Châu sang nước ta để làm lễ. Tuy nhiên tỉnh Quảng Tây không có quan lại người Mãn Châu nên phải điều động Thành Lâm là Lễ bộ viên ngoại lúc đó đang đi tuần duyên hải Quảng Đông sang Thăng Long. Thành Lâm phụng mệnh khởi trình từ Quảng Châu ngày mồng một tháng tám, ngày 28 đến Trấn Nam Quan. Vào mùa thu nhiều chướng khí, vua Quang Trung lúc đó đang ở Nghệ An, cũng chưa lên đường ra kinh đô tiếp sứ nên Thành Lâm phải ở lại cửa quan để chờ.

***
“… Xe con vẫn bon trên đường ngược lên hướng Băc, từ Lạng Sơn đến biên giới con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh những ngọn đồi trọc không có người ở. Bất nghi bất mụ tôi hỏi cụ đường đi nước bước tới Bắc Kinh qua những địa danh nào. Cụ cho hay lại theo “Khâm Ðịnh Ðại Nam hội điển sự lệ” khi kinh đô còn là Thăng Long, đường bộ bao giờ cũng qua Trấn Nam Quan sang Quảng Tây theo đường Hồ Nam, Hồ Bắc, Giang Tây, Giang Nam, Sơn Ðông, Trực Lệ. Với đường mưa ướt đất, sở cuồng tôi hỏi đường đi từ Thăng Long tới Bắc Kinh ra sao? Cụ lòi tói cái “bánh mì tay cầm-thông minh” bấm bấm ra con số: 2.325 cây số…đường chim bay. Bèn thưa với cụ ý đồ muốn hỏi là sứ bộ các cụ ta xưa đi mất những…mấy ngày?
Cụ nhìn sở cuồng tôi bằng nửa con mắt rùa và im như thóc ngâm. Úi chà gay đây!

Sở cuồng tôi không biết làm gì là làm thinh, nhìn ra ngoài xa xa, sở cuồng tôi như hòa nhập vào một mảng váng chiều ướt đẫm. Cụ cũng đang hong hanh mắt về đám cỏ trứng ếch hoa đỏ liu riu chạy từng gợn, từng gợn đuổi bắt nhau. Nhìn về bến đò, có thể cụ đang hoài đồng vọng đến con sông ngày nào khi cụ đi sứ qua đây. Trong cơn đồng thiếp với chữ nghĩa để bèn cảo mực đề văn, sở cuồng tôi hỏi chuyến đi sứ của cu…
Cụ gật gịa âm ử nho táo thẩn thơ: Vạn lý đan xa độ Hán quan - Nhất lộ giai lai duy bạch phát - Nhị tuần sở kiến đãn thanh san. Cụ tha ma mộ địa là sứ bộ vượt cửa ải nhà Hán, trên con đường muôn dậm, suốt dọc đường cùng với ta chỉ có mái tóc bạc. Cả hai tuần chỉ thấy một màu núi xanh. Sở cuồng tôi buồn môi ngứa mép về ải Nam Quan, cụ gật đầu tắp lự: Cửa ải ở địa giới tỉnh Quảng Tây. Cửa một tầng xây bằng những phiến đá. Hai bên tả hữu có hai ngọn núi đối nhau. Ở trên mỗi ngọn núi đều có cắm một lá cờ trắng đề bốn chữ ‘”Trấn Nam Đại Quan”. Đằng trước cửa có đài Ngưỡng Đức của ta để sửa soạn đồ cống sứ, đằng sau cửa có đài Chiêu Đức của Tàu, nơi sứ thần ta đốt hương bày đồ cống cúng tế. (theo Ngô Thời Vị trong dẫn nhập bài thơ tả cảnh Trấn Nam Quan khi đi sứ năm 1807)
Đang giang giang chuyện, cụ lại nho nhe thơ thẩn: Vương đạo đãng bình hưu vấn tấn - Minh Giang bắc thướng thị Trường An…Số là khi vừa mới qua trấn Nam Quan, cụ nghĩ chuyện đi Bắc Kinh đơn giản như đan rổ vì ngỡ đường sá bằng phẳng, không phải hỏi thăm ai, qua sông Minh Giang, đi thẳng lên phía bắc là tới Trường An. Nhưng chả phải vậy, vì chưng phương tiện đi sứ của sứ bộ là…đi bộ và thuyền. Đường bộ thì ở chân núi, bùn đọng ngập bụng ngựa, quái vật nấp hai bên bờ suối lâu ngày thành tinh (Sơn lộc tích nê thâm một mã - Khê tuyền phục quái lão thành tinh) nên cụ quắn quả là vậy. Còn đi thuyền thì sao? Suốt ba ngày đêm đi thuyền lòng cứ thấp thỏm, lo sợ nhiều bề. Đó chỉ mới một sông Ninh Minh thôi, sứ bộ còn phải qua bao nhiêu con sông khác nữa, khi ngồi trong thuyền nỗi lo sông nước bạc đầu thiếu niên (Chu trung niên thiếu giai bạch đầu). Vì mỗi lần qua sông phải chuyển đồ cống phẩm hành lý xuống thuyền, tới bờ lại chuyển đồ lên để gồng gánh, do đó mỗi lần qua sông là mất nguyên ngày. Ấy là cư tính cống phẩm có nguyên cả…con voi nữa.
Vơi bến thuyền cùng nỗi lo sông nước đến bạc đầu. Nay ở nơi chốn này có chiếc thuyền chơ vơ đang…chòng chành trên sóng nước như đưa cụ về một bến nước. Theo sóng nước, cụ râm rả từ Thăng Long lên Bắc Kinh không thôi khoảng…ba, bốn tháng!

(…) Trung tuần tháng 5, Nguyễn Quang Hiển từ Thăng Long đi lên Lạng Sơn. Ngày 25 tháng 5, sứ đoàn Đại Việt đến Chiêu Đức Đài đón sắc thư. Ngày 27 tháng 5, phái đoàn nước ta tất cả là 21 người, từ nhà khách của tỉnh Quảng Tây do Thang Hùng Nghiệp dẫn đường đi lên kinh đô nhà Thanh. Trên đường rong ruổi tới huyện Phong Châu, phủ Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông. Ngày mồng 9 tháng 6 năm Càn Long thứ 54, phái đoàn nước ta vào huyện Bồ Kỳ tỉnh Hồ Bắc. Ngày 12 tháng 6, phái đoàn nước Nam đến tỉnh thành, tổng đốc Hồ Quảng là Tất Nguyên dẫn các ty thuộc ra nghênh đón, sau đó cho bày tiệc, tổ chức hát bội tiếp phái đoàn. (...) Ngày 29 tháng 6, phái đoàn lại từ phủ Chương Đức khởi hành đi Phong Lạc, khi ấy nước sông Chương Hà đang dâng cao, thuyền không thể qua được…Đợi đến ngày mồng 1 tháng 7, nước bắt đầu rút, tri phủ Chương Đức đưa phái đoàn sang ngang tới Từ Châu…”
       
***
Ngày 12 tháng 9, vua Quang Trung sai đề đốc Lê Xuân Thôn [33] đem 1000 phu dịch và 100 con ngựa cùng 500 vệ sĩ lên Trấn Nam Quan nghinh đón sắc dụ và ngự thi của vua nhà Thanh. Lê Xuân Thôn tới Nam Quan, qua ải vào Chiêu Đức Đài hành lễ tại long đình [34] tiếp chiếu.
Ngày 13 tháng 9, sứ thần nhà Thanh cùng phái đoàn nước Nam đưa sắc chiếu về Thăng Long, sử Tàu chép là quan ta bày nghi trượng đến 7, 8 dặm, đi đến đâu dân chúng cờ quạt đứng dọc đường reo hò vui vẻ.
Ngày 22 tháng 9, phái đoàn về đến Gia Quất, còn cách kinh thành chừng 6, 7 dặm, vua Quang Trung sai con thứ là Nguyễn Quang Thùy cùng Ngô Văn Sở, quan văn võ hơn 100 người ra đón. Thành Lâm vốn định ngày 24 tháng 9 sẽ chủ lễ phong vương, thụ sắc nhưng vua Quang Trung ngày 28 tháng 8 đã từ Nghệ An đi ra, đến huyện Đông Thành thì bị cảm phải nghỉ lại dưỡng bệnh, thành thử Thành Lâm đành phải chờ ở Gia Quất. Theo tờ bẩm của Thành Lâm thì “dân nước đó xa gần đều đến trước công quán để xem long đình, rất nhiều người lạy lục hò reo. Lại có hai viên mục tên là Đinh Phụ Tể, Cấn Danh Văn, tuổi đã ngoài 80, khi nghe tin sắc mệnh đến nơi, cũng không quản đường xa mấy trăm dặm đi tới, khấu đầu chúc mừng. Còn trấn mục Ngô Văn Sở và Ngô Thời Nhâm (Nhiệm) thì sớm tối đều đến thăm, hết sức ân cần” [35]. Cũng theo tài liệu của nhà Thanh, đêm hôm 14 tháng 10, vua Quang Trung đến Thăng Long, ngày hôm sau Thành Lâm tuyên chỉ phong làm An Nam quốc vương [36]. Thành Lâm cũng lên giọng thiên triều “cố vấn” vua Quang Trung thuật trị nước, vua ta chỉ gật gù khen phải.

Sắc phong này đề ngày 22 tháng 6 năm Kỷ Dậu, do Quân Cơ đại thần thảo ra, trình lên ngự lãm rồi, sau đó do thư ký trong nội các viết bằng hai thứ chữ Mãn – Hán, đóng ngự bảo (dấu của nhà vua) nguyên văn như sau:
Trẫm vốn chỉ dùng vương hóa để trải rộng, phạt kẻ có tội nhưng vẫn tha kẻ quay về, phong cho chư hầu biết kính cẩn giữ lễ, coi việc lớn là sợ trời, xét lòng thành của kẻ nơi hoang dã, bỏ qua những chuyện cũ, đem ân ban bố cho thuộc quốc, thêm điều mới mẻ, rực rỡ để dạy dỗ người ta noi theo.
Đất An Nam ở nơi nóng nực xa xôi, mở mang ra cương vực mười ba đạo, họ Lê thần phục thiên triều, giữ việc cống lễ hơn trăm năm qua, tuân theo vương hoá, dựng nên một phương. Đến khi gặp nạn ly tán, chạy đến tố cáo, (thiên triều) đã hưng sư lấy lại nước nhưng cơ đồ cũng không giữ nổi, vứt ấn bỏ thành, yếu đuối đến nỗi mất hết, khiến cho trời cũng ghét bỏ kẻ đức mỏng, tuy nối lại mà cũng bỏ đi.
Ngươi Nguyễn Quang Bình khởi từ đất Tây Sơn, vốn dĩ mặc y phục phương nam, đối với kẻ kia không có nghĩa quân thần, chỉ có tình hôn nhân, đến khi hai bên gây hấn, tình nghĩa dứt rồi, lúc vội vã chống lại, dẫu không phải là cố ý nhưng tội lỗi không dễ xoá nhoà. Nay biết thống hối, dâng tờ biểu thiết tha, sai con làm sứ thần sang trình bày, đem đồ quí báu sang cống hiến, bản thân sang năm sẽ qua chúc thọ, chẳng phải vì mong được phong tước để được vinh quang, mà để cho thần tử đang ngơ ngác, lang thang có nơi tụ tập. Những lời trần tình ấy quả là thành thực, tuy nơi xa xôi cũng thuận quay về, huống chi vương đạo không phân biệt ai, há lại coi chỗ này hơn chỗ khác, người sống phải có kẻ chăn dắt, kẻ hòa hợp cần được yên ổn gia đình, người nghèo được nâng đỡ, kẻ kém được vỗ về, nay phong cho ngươi làm An Nam quốc vương, ban cho ấn mới.
Than ôi! Đời có lúc hưng lúc phế, thiên tử cứ theo mệnh trời mà làm, không ngờ vực, không sợ hãi, người trong nước tất cả đều nghe theo, để cho vương đạo tràn lan khắp cõi, truyền cho đến cháu con, không để vào tay họ khác, hết lòng hết dạ chăm chỉ sớm hôm, không trễ nải việc nước, luôn luôn kính trọng oai trời, để được thấm nhuần ơn mưa móc mãi mãi. Khâm tai! Chớ bỏ qua lệnh của trẫm.

Vua Cao Tông còn làm một bài thơ, đích thân viết tặng cho vua Quang Trung:
Ai giỏi thắng người chẳng dụng binh?
Đánh cho biết sợ, phục tâm thành.
Họ Lê đáng xót vì trời ghét,
Nhà Nguyễn nên cho hưởng phúc lành.
Vốn đã thu này sai cháu đến,
Sang năm sẽ lại tự thân hành.
Chân thành đến vậy phiên bang hiếm,
Sao nỡ chẳng khen, đặng hiển vinh!

Về việc chậm trễ tại sao trước đây đã định phong vương vào tháng 9 lại phải dời lại đến cuối tháng 10 thì vẫn còn là một câu hỏi chưa có trả lời thích đáng. Theo các sử sách của Việt Nam, tất cả đều chung một luận cứ là vua Quang Trung ương ngạnh không chịu ra Thăng Long làm lễ mà bắt sứ nhà Thanh phải vào Nghệ An hoặc Phú Xuân. Đọc lại những thư từ qua lại chúng ta thấy rằng lúc đầu ông quả có ý định ra nhận phong vương tại Thăng Long vào cuối tháng 9 nhưng trên đường đi bị ngã bệnh, sự việc gấp rút đành phải thoái thác cho qua.
Còn Thành Lâm thì ngay hôm 17 tháng 10 lập tức lên đường về nước, vua Quang Trung sai người thân tín là Nguyễn Hoành Khuông, Tống Danh Lang, Lê Lương Thận dâng biểu tạ ơn cùng các lễ vật đem sang. Cũng theo sứ nhà Thanh thì khi từ giã, vua Quang Trung “chắp tay tống biệt, ra chiều bịn rịn”, sai con là Nguyễn Quang Thùy cùng văn võ các quan đưa tiễn đến ngoài 15 dặm, còn Ngô Văn Sở thì tiễn đến ngoài 20 dặm mới quay về. Kèm theo tờ biểu tạ ơn là cống phẩm của nước ta bao gồm: hai mươi dật vàng, một trăm dật bạc, một trăm tấm lụa, một trăm tấm sa mỏng (la hoàn), ba đôi ngà voi nặng cả thảy 200 cân.
Ngoài lễ vật tạ ơn ra, vua Quang Trung còn sai bầy tôi là Trần Đăng Thiên, Nguyễn Chỉ Tín, Nguyễn Đề Phụng ngày 22 tháng 10 đem cống vật hàng năm bao gồm bốn đôi lò hương, bình hoa bằng vàng, tất cả nặng 209 lượng, tốc hương 1915 lượng do Nguyễn Hoành Khuông dẫn đầu cùng đi với Thành Lâm qua ải Nam Quan.

IV -  Bát tuần vạn thọ tiết vua Cao Tông và phái đoàn Đại Việt
Ngay từ tháng ba năm Càn Long thứ 53 (1788) đã có chỉ dụ cho A Quế, hòa Khôn, Lưu Dung, Phúc Trường An, Hồ Quí Đường, Kim Giản, Lý Hoãn, Y Linh A trông coi sắp xếp đại lễ bát tuần của vua Càn Long. Lễ khánh hạ chính thức kéo dài 8 tháng, từ ngày Nguyên Đán năm Càn Long 55 (1790) trở đi.

***
Tiếp Thứ nhất đi sứ, thứ nhì di quan ..       
“…Ngày 24 tháng 7, phái đoàn nước ta đến hành tại (nơi vua ở khi tuần du khỏi hoàng thành) ở Nhiệt Hà. Phái đoàn sứ bộ Nguyễn Quang Hiển tới Yên Kinh. Ngày 22 tháng 8, nhà Thanh tổ chức lễ trao sắc phong cho phái đoàn nước ta ở điện Thái Hoà. Sau lễ trao sắc ấn hoàn tất, phái bộ Nguyễn Quang Hiển lưu lại kinh đô thêm 2 ngày.
Ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Dậu, phái đoàn lại lên đường trở về nước. (…)
Rồi cụ đờ đẫn cười cho hay riêng lần này, để cho đỡ vất vả, Phúc Khang An đã sắp xếp để phái đoàn đi thuyền từ Ninh Minh đến Nam Xương, tính ra đến hơn một tháng rưỡi. Năm sau sứ bộ ta đi Bắc Kinh dự lễ Bát tuần vạn thọ năm Canh Tuất [1790] mà cả đi lẫn về kéo dài đến…9 tháng. Cụ ve vé mắt nhìn ra ngoài…Cả vùng núi cao hoang vu bao phủ, đôi lúc có con đường mòn cắt ngang qua. Ðường đi lúc thì núi đá hiểm trở, lúc thì vực thẳm tối tăm. Mặc dầu là mùa xuân, cây cối trong rừng vàng vọt khô héo. Hốt nhiên cụ hong hanh mắt và nói không phải đi sứ ba, bốn tháng. Cụ lụng bụng là có khi cả năm trời đằng đẵng…
(…) Cuối triều Lê, lễ tuế cống cử hành năm 1760. Sứ bộ gồm chánh sứ Trần Huy Mật tiến sĩ năm 1736, giáp phó sứ (phó sứ số 1) Lê Quý Đôn, bảng nhãn khoa 1752 và ất phó sứ (phó sứ số 2) là Trịnh Xuân Chú, tiến sĩ khoa 1748. Những hành nhân, có 9 người, 3 thông sự (phiên dịch), 2 trung thư (thư ký), 2 y viện (y sĩ) và 2 người thường vụ. Các sứ lại được chọn một số tùy nhân để giúp việc riêng, số là 11 người và có thể đem theo một người bà con thân cận gọi là môn tử. Lần này với 2 môn tử, sứ bộ gồm tất cả 25 người.
Ngày 28 tháng giêng năm Canh Thìn 1760, sứ bộ qua sông Nhị, đi đường bộ tiến lên Lạng Sơn, rồi tới Ninh Minh là bến đò đầu tỉnh Quảng Tây. Từ đó xuống thuyền, qua Nam Minh, Ngô Châu, Quế Lâm; vượt các sông Quế, sông Tương, rồi xuôi dòng đến hồ Động Đình, xuôi sông Dương Tử đến Nam Kinh, chuyển sang sông đào Vận Hà thẳng lên Bắc, vượt Hoàng Hà rồi tới Bắc Kinh. Đến đây đã mùa đông, sông bị giá đóng, sứ bộ phải lên bộ. Ngày mồng 8 tháng 12 mới tới Bắc Kinh. Sứ bộ đi mất gần cả năm vì mùa đông, sông bị giá đóng. Vì đồ cống tuế mang theo có cả…một con voi…”

***
Ngày 13 tháng 8, vua Cao Tông vào điện Thái hòa nhận quà mừng của đại thần, phiên vương. (…)
Ngày 16 tháng 8, nhà vua trở lại Viên Minh Viên, lại tiếp tục ăn uống, cho tới 20 tháng 8 mới chấm dứt.
Theo tài liệu của Thanh đình ghi trong Càn Long Bát Tuần Vạn Thọ Khánh Điển Đáng, một cái bàn thật lớn được đặt ngay giữa cung Càn Thanh, phủ khăn vàng lấp lánh, chung quanh thêu rồng và đính những hạt ngọc. Đây là bàn tiệc chính của bữa tiệc tên gọi là Kim Long đại yến trác. Yến bắt đầu vào giờ Tỵ, trên bàn bày tám hàng:
- Hàng thứ nhất: Hai bình hoa tươi hai đầu và bốn mâm hoa quả tươi. Giữa các mâm hoa quả là những khay cao năm thước đựng đồ điểm tâm
- Hàng thứ hai: Chín đĩa lớn đựng đồ chay
- Hàng thứ ba: Chín đĩa lớn đựng đồ mặn
- Hàng thứ tư: Hai hộp lớn bằng sơn mài (lacquer) đỏ, mỗi hộp mười ngăn đựng mười loại mứt, hai đầu để hai đĩa lớn đựng bào ngư (abalone) và ốc (whelk)
- Hàng thứ năm: Mười đĩa thịt nguội
- Hàng thứ sáu: Mười đĩa thịt nóng
(…)
Bàn của vua Càn Long để ngay trước ngai vàng trên để thìa bằng bạc, cán bằng gỗ tử đàn khảm vàng, đũa ngà bịt vàng, một chậu vàng rửa tay và hai bên là hai ống nhổ bằng vàng. Gần bên là bốn món ăn khai vị đựng bằng đĩa vàng. (…) Theo thống kê, bữa tiệc cho nhà vua gồm 20 món nóng, 20 món lạnh, 4 món súp, 4 món khai vị, 4 loại trái cây tươi, 28 trái cây khô và dưa (melons), 29 loại điểm tâm, tổng cộng 109 món. Sau nghi lễ chúc tụng, bữa tiệc bắt đầu từ giờ Ngọ đến giời Mùi, xen kẽ là âm nhạc, có cả múa lân các màn trình diễn của nhiều sắc tộc. Theo sử nước ta, phái đoàn vua Quang Trung có mang theo một đoàn nhạc công hát 10 từ khúc chúc mừng vua Thanh. Nghi lễ nhà Thanh rất phức tạp, phần lớn chỉ bưng lên đặt xuống, tân khách sợ thất thố nên không mấy ai tận tình thưởng thức bữa đại yến này. Vì nước ta còn đang trong thời kỳ kiến thiết, việc quốc vương đi xa lâu là chuyện bất đắc dĩ nên sau khi lễ khánh thọ chấm dứt, vua Quang Trung liền xin được trở về ngay.



Vua Quang Trung và hai đại thần Phan Huy Ích và Ngô Văn Sở (áo đỏ) quỳ chầu vua Thanh.
Sáu nhạc công An Nam và nhạc khí ngồi phía sau.
Tranh tên: “An Nam quốc vương chí Thị Thử sơn trang

Ngày 20 tháng 8, vua Quang Trung vào từ biệt, vua Càn Long thân mật ban ngự tửu cho hai sứ thần nước ta là Phan Huy Ích và Võ Huy Phác, cùng ngỏ lời phủ dụ quốc vương nước Nam.
Ngày 29 tháng 11, phái đoàn về đến ải Nam Quan, ngày 20 tháng 12 tới Nghệ An.

Kết luận
Nói tóm lại, không biết vì lý do gì trước đây các sử gia Việt Nam lại hiểu nghi lễ nhà Thanh tiếp vua Quang Trung ở Nhiệt Hà là bão tất (ôm gối), trong khi sách vở Trung Hoa cũng như Việt Nam đều chép là bão kiến thỉnh an. Chính Hoa Bằng cũng đã viết:
Để tỏ ý ưu đãi khác thường, vua Kiền Long, khi tiếp giả vương ở hành cung Nhiệt hà, cho làm lễ “bão kiến, thỉnh an” trong một bầu không khí cực êm đềm thân mật. Lễ đó, theo như lời dụ của vua Thanh, chỉ những ai trong bọn đại thần có nhiều huân lớn, công to mới được dùng. Sự hiểu lầm đó đã khiến cho chúng ta không đánh giá đúng mức chuyến đi lịch sử có một không hai này, không những hạ thấp vua Quang Trung mà coi nhẹ cả nước ta trong toàn thể khu vực, không giải thích được nhiều vấn đề trong bang giao Việt Thanh cuối thế kỷ 18. Trước đây khi các quan ta được cử đi sứ sang Tàu, tuy vinh dự thật nhưng vẫn coi như một cuộc phiêu lưu đáng sợ, mỗi chuyến mất cả một hai năm, có khi lâu hơn. Những quan lại được cử đi thường trối trăn coi ngày đi là ngày giỗ vì nhiều người phải bỏ xác nơi xứ lạ. Đường đi gian nan diệu vợi đã đành mà lại luôn luôn phải ở trong tình trạng sẵn sàng chịu đựng thử thách cho khỏi nhục quốc thể. Thông thường cống sứ nước ta ba năm đi một lần, có khi sáu năm, hai lần gộp làm một. Chỉ riêng đời Tây Sơn, việc đi sứ trở thành một vinh dự, người nào đi cũng làm thơ để lại, tuy không rõ ràng chi tiết nhưng cũng cho ta biết tâm sự của sứ thần rất phấn khởi. Việc đi sứ đời Tây Sơn cũng trở thành thường xuyên hơn.

Trong thời gian 250 năm từ 1661 đến 1911, nước ta chỉ gửi người đi sứ tổng cộng 45 lần, trung bình 5 năm một lần. Thế nhưng dưới đời vua Quang Trung, chỉ trong mấy năm từ 1789 đến 1793, mỗi năm ít nhất có một phái bộ sang Tàu, có năm đến hai phái đoàn. Tuy nhiên, quan trọng nhất, tuy liên hệ với nhà Thanh trở nên mật thiết, nước ta vẫn giữ được quyền tự chủ, độc lập và vẫn theo đuổi những chính sách có khi đi ngược lại chủ trương của Thanh đình. Về cuộc đàm phán và bang giao Việt – Thanh từ trước đến nay các sử gia thường nhấn mạnh vào tiến trình qua lại. Trong bài này chúng tôi lại chú trọng đến thành quả mà triều đình Tây Sơn thu đạt được, vai trò của nước ta đối với Trung Hoa và tư thế mới trong vùng Đông Nam Á. Một điều hiển nhiên là vấn đề ngoại giao luôn luôn là một cơ hội xác định vị trí của mình. Bao giờ cũng vậy, nếu vấn đề thương thảo mà đối phương ở trong tư thế mạnh, triều đình Việt Nam đành phải chấp nhận những nhượng bộ, khác nhau là ít hay nhiều. Trái lại một khi chúng ta chứng tỏ được rằng phiên thuộc chỉ là hình thức, dân tộc Việt Nam vẫn độc lập về chính trị và kinh tế, nếu bị o ép quá thì cũng không từ bỏ biện pháp vũ lực, thần phục có chăng chỉ trên danh nghĩa mà thôi, khi đó cách đối xử sẽ hoàn toàn khác hẳn.

Trong hơn một nghìn năm tự chủ, tổ tiên chúng ta khi mềm, khi cứng, có lúc phải dấy động can qua nhưng cũng có khi biết uyển chuyển tùy thời để vừa giữ vững quyền độc lập, vừa khiến cho phương Bắc phải từ bỏ mộng xâm lăng. Chiến thắng to lớn nhất của ông cha ta đời Tây Sơn không phải là tiêu diệt được đoàn quân của Tôn Sĩ Nghị mà là tạo được thế đứng mới để Bắc phương không dám tái diễn việc xua binh xuống phương Nam ngõ hầu dân tộc Việt Nam được thanh bình, tạo cơ hội phát triển đem lại cơm no áo ấm cho quần chúng. Đó không phải chỉ là một kết quả quân sự mà còn là một thành quả ngoại giao, mãi mãi vẫn là một mục tiêu mà người dân Việt nhắm đến.

Việc chấp nhận phong vương của vua Quang Trung cũng như tiến trình giao thiệp với nhà Thanh từ đầu năm Kỷ Dậu (1789) đến cuối năm Canh Tuất (1790) là một đề tài lớn không thể chỉ thâu tóm trong vài chục trang. Hi vọng với những điều kiện mới, những học giả Việt Nam sẽ có cơ hội đào sâu vào văn khố của Trung Hoa để tái tạo lại một giai đoạn lịch sử với đầy đủ chi tiết, điều chỉnh lại những sai lầm vẫn còn đầy rẫy trong sử sách ngày hôm nay. Nếu bài viết này đánh động được tâm thức của một vài thanh niên trong hay ngoài nước thì đó là điều mong mỏi của người viết. (NDChinh)


Tài liệu tham khảo
[1] Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược (Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, 1971) q. 2
[2] (chữ Hán) - [3] (chữ Hán) - [4] (chữ Hán)
[5] Tài liệu quan trọng nhất mà chúng ta có thể kiểm chứng là Đại Việt quốc thư nhưng tiếc thay chúng tôi không có nguyên bản chữ Hán để đối chiếu. Rất nhiều chỗ trong đây nhắc đến chi tiết này nhưng đều được dịch là “lễ đem con đến bệ kiến” (tr. 256)
[6] Sau đây là một số từ điển chúng tôi đã lược qua để tìm hai chữ “bão tất” nhưng không thấy. Từ Hải (2 cuốn) (Đài Bắc: Đài Loan Trung Hoa Thư Cục 1974), Trung Việt từ điển (Hà Nội: nxb KHXH, 1993), Từ Điển Hán Việt (Trần Văn Chánh: tp HCM, Trẻ 1999), Từ Điển Hán Việt hiện đại (Tp HCM: nxb Thế Giới, 1994), (…) Hán Anh từ điển (A Chinese-English Dictionary) (Bắc Kinh, Thương Vụ Ấn Thư Quán 1989), Hán Việt từ điển (Đào Duy Anh, Saigon: Trường Thi 1957), Hoa ViệtTân Từ Điển (Lý Văn Hùng, Đại Nam in lại ở hải ngoại, không đề năm)
[7] Bão tất thuyền đầu, Tư kiến gia tân. Vi phong động ba, Võng yên nhược tỉnh. [8] Năm 1540, Mạc Đăng Dung sợ, lên cửa quan đầu hàng, nộp nước, chỉ xin giữ chức Đô Thống Sứ mà thôi. Vua Minh bèn xóa tước An Nam quốc vương. Từ đó đến gần cuối đời Minh, điển lệ Trung Quốc coi sứ ta như là một kẻ thừa sai đặc biệt, chứ không được ban yến. Mặc dầu sau khi dòng họ Lê trở lại Thăng Long và sai sứ cầu phong, triều Minh vẫn thoái thác và chỉ phong làm Đô Thống Sứ An Nam và bắt để họ Mạc làm Đô Thống Sứ Cao Bằng. Hoàng Xuân Hãn:
[9] Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm 2778, bao 162, số hiệu 39011, tấu thư của Phúc Khang An ngày mồng 5 tháng tư năm Càn Long 54 (Trang Cát Phát: sđd tr. 382)
[10] Đời Càn Long quân Thanh hai lần tiến đánh Miến Điện, lần thứ nhất năm 1767 do Minh Thụy chỉ huy, lần thứ hai năm 1769 do Phó Hằng chỉ huy. Phó Hằng chính là cha của Phúc Khang An. Cả hai lần quân Thanh đều đại bại vì bị chướng khí, chết rất nhiều. Sau vì quân Xiêm La đánh tập hậu, quân Miến Điện mới chịu nghị hoà. Kinh nghiệm đó khiến cho Phúc Khang An ngại ngùng không dám tính chuyện đem quân xuống đánh nước ta. (Bách Dương: Trung Quốc nhân sử cương, 1996 tr. 893)
[11] Nguyễn Nhã: Nguyễn Huệ, một thiên tài quân sự (Một Vài Sử Liệu về Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ, Cali: Đại Nam 1992) tr. 105
[12] Quốc Sử Quán triều Nguyễn: Đại Nam Nhất Thống Chí (Phạm Trọng Điềm dịch) (Huế: nxb Thuận Hoá, 1997) tập 4 tr. 334-5
[13] Đối chiếu với những tài liệu của nước ta còn giữ được thì bài này do Phan Huy Ích làm hiện còn ghi lại trong Dụ Am văn tập. Tuy nhiên bài của họ Phan dài hơn nhiều, lời lẽ cũng ngạo nghễ, trút tội lên đầu Tôn Sĩ Nghị và cũng có thêm một số chi tiết đính chính cho sử nhà Thanh. (Hoa Bằng: sđd tr. 211-8)
[14] Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm số 2778, bao 162, số hiệu 38978, biểu văn của vua Quang Trung dưới tên Nguyễn Quang Bình, Càn Long năm thứ 54, tháng 2
[15] Trong lá thư của Ngô Văn Sở kêu gọi Phan Khải Đức trở về cũng có nhắc đến việc Lê Duy Kỳ giết chú, gian dâm với em (sát thúc, dâm muội) khiến chúng ta có thể đặt câu hỏi phải chăng Lê Duy Kỳ làm chuyện loạn luân bị những hoàng thúc phản đối nên giết họ chăng? Cũng theo lá thư của thân tộc nhà Lê gửi Tôn Sĩ Nghị thì ba vị hoàng thúc đó có tên là Lê Duy Lữ, Lê Duy Lân, Lê Duy Hội (xem thêm Khi Núi, Đất, Biển)
[16] Trang Cát Phát: sđd tr. 387
[17] Nguyên văn: (chữ Hán) (đặc khiển kỳ trưởng huynh Nguyễn Quang Hoa chi trưởng tử Nguyễn Quang Hiển). Cho đến giờ phút này chúng ta không hiểu rõ Nguyễn Quang Hoa đây có phải là Nguyễn Nhạc không? Theo sử sách và những tài liệu rải rác, Nguyễn Huệ có thể là thứ tám (hay thứ bảy) trong nhà, ngoài Nguyễn Nhạc và Nguyễn Lữ còn có thể có nhiều chị và anh khác nhưng ít được nhắc đến.
Nguyễn Quang Hiển có lẽ không phải là con của Nguyễn Nhạc (tức Nguyễn Bảo) vì lúc này giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ đang có sự bất hoà, hai bên mới đánh nhau một trận lớn năm 1787. Nguyễn Quang Hiển xem ra phải đã trưởng thành và có giao tình rất đặc biệt với Nguyễn Huệ, rất có thể là con một ông anh (hay một bà chị mà nói thác ra) nào đó đã từ trần. Cũng có thể đó chỉ là một chi tiết bịa đặt cho qua chuyện vì khi đó con trưởng của Nguyễn Huệ là Nguyễn Quang Toản còn quá nhỏ (chưa đầy 10 tuổi).
Tuy nhiên Nguyễn Huệ cũng còn một người con khác là Nguyễn Quang Thùy (đóng một vai trò quan trọng trong bang giao Hoa – Việt) mà nhiều người cho rằng chính là con cả nhưng bị mất ngôi chỉ vì mẹ Thùy ở Qui Nhơn bị Nguyễn Nhạc bức dâm.
[18] Nghi lễ này so với các sứ thần nước ta khi trước sang phong vương rất đặc biệt. Trước đây bên ta chỉ được qua 4 người, đón vào Chiêu Đức Đài rồi đi lên Yên Kinh dâng biểu cầu phong, xem ra đơn bạc lắm. Mỗi lần sứ đoàn chỉ được từ 4 đến 6 người, thêm một vài đầy tớ, đến và đi chỉ được tiếp đãi qua loa, sứ thần ta chỉ còn biết dùng văn thơ đối đáp để tỏ ý chí quật cường. Lần này phái bộ nước ta được tiếp đãi là do chiến công trước đây 2 tháng nên tình hình khác nhiều.
[19] Trang Cát Phát: sđd tr. 387
[20] Cứ theo mốc thời gian thì dường như vua Càn Long đổi ý chứ có lẽ nếu phải thư từ qua lại thì không thể nào kịp được. Thời gian điều đình này quá gần, việc gửi công văn từ Quảng Tây lên Yên Kinh không thể chỉ trong vài ngày. (Lời người viết)
[21] Dựa theo Triều Châu Dữ Mạo Đỉnh của Kê Nhược Hân trích trong Cố Cung Văn Vật nguyệt san, Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, Đài Bắc số 22, tháng 1 năm 1985.
[22] Danh sách này tìm thấy trong Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm 2778, bao 163, số hiệu 39114 (Trang Cát Phát: sđd tr. 389)
[23] tên ông này sách chép khi thì Phác, khi thì Tấn (璡) (cả hai đều bộ Ngọc)
[24] tức quốc kịch
[25] Trang Cát Phát: sđd tr. 393
[26] kỹ nghệ đúc thủy tinh đã đạt trình độ rất cao dưới đời Thanh sau khi vua Khang Hi chỉ định giáo sĩ Kilian Stumpff trông coi việc chế tạo.
[27] Người Trung Hoa vào thế kỷ 18 gọi chung các nước Âu Châu là pháp lang. Chữ này do người Ả Rập mang đến lấy từ tiếng Ả Rập farangi (Franks), được dùng trong trận Thánh Chiến (Crusades) để chỉ tất cả các quốc gia Thiên Chúa giáo. Về sau hai chữ này được các giáo sĩ Jesuit thay bằng Thái Tây. Sang nước ta hai chữ này được dịch thành Hoa Lang (theo A. B. Woodside trong Vietnam and the Chinese Model , Havard University Press 1971 Hoa Lang là do tiếng Xiêm La để chỉ người da trắng.
[28] Nhiệt Hà còn gọi là Thừa Đức ở quan ngoại là đất cũ của nhà Thanh ở phía bắc , do đó phái đoàn đi lên Bắc, qua khỏi Vạn Lý Trường Thành rồi lại quay trở về Yên Kinh.
[29] tự Quảng Đình, do chân ấm sinh mà làm quan, làm quan tới Võ Anh Điện đại học sĩ, từng lập rất nhiều chiến công được phong tước Thành Mưu Anh Dũng Công.
[30] tự Thượng Tá, đỗ tiến sĩ, làm tổng đốc Nam Hà – Đông Hà kiêm Binh bộ thượng thư đời Càn Long, làm quan tới Văn Uyên Các đại học sĩ.
[31] Trang Cát Phát: sđd tr. 386
[33] Theo Đại Việt Quốc Thư (tr. 75) còn trong tài liệu của Trung Hoa thì lại viết là Lê Xuân Tài. Hai chữ tài và thôn rất giống nhau.
[34] Long đình là kiệu rồng để khiêng chiếu chỉ, sắc thư do hoàng đế ban xuống
[35] Nguyên văn: Cai quốc viễn cận di dân, chí công giải tiền, dao vọng long đình, hoan hô khấu đầu giả phàm sổ khởi. Hựu hữu viên mục Đinh Phụ Tể, Cấn Danh Văn nhị nhân, niên câu bát thập dư tuế, hân văn sách mệnh lâm cảnh, ư sổ bách lý ngoại bạt thiệp tiền lai, cung nghệ long đình tiền, khấu đầu xưng khánh. Kỳ trấn mục Ngô Văn Sở tức Ngô Sơ cập Ngô Thời Nhâm (Nhiệm) đẳng tảo vãn yết kiến, thậm vi tiếp hợp)
[36] Chi tiết ghi trong tấu văn của Tôn Vĩnh Thanh, đề ngày 24 tháng 10 năm Càn Long 54, hiện còn tàng trữ trong Cung Trung Đáng, hòm số 2727, quyển 234, số hiệu 58601.

***
Hiệu đính
Lại nho nhe nữa với ông đồ vẫn ngồi đấy, qua đường không ai hay…chuyện bạn đọc không hay là mụ sử tôi đeo theo ông Bùi Thiết trong Đối thoại với sử học, mụ sử tôi quại bừa voi của cụ vua Quang Trung ta qua sông hết bằng thuyền gỗ đến…thuyền thúng (tr 205) lềnh bềnh trên sóng nước. Nay đọc Vua Quang Trung sang dự lễ bát tuần thượng thọ thực hay giả? mới chớ phở ra voi qua sông bằng bè tre. (tr 125)
Thêm nho táo nữa với nhĩ văn mục đồ là tai nghe mắt thấy…thấy mình sai quây trong chuyện voi của vua ta đem cống trong dịp thượng thọ. Trước kia mụ chữ tôi cứ lực đực hai con voi đực của cụ vua ta vừa nhàn nhã bước một, vừa thảnh thơi gặm cỏ từ Nghệ An lên Yên Kinh thì bao giờ mới tới?. Bây giờ đọc “Vua Quang Trung sang dự lễ bát tuần thượng thọ thực hay giả?” mới ớ ra cụ vua ta sai phu dịch đem voi qua trước…trước khi cụ vua ta tới Lạng Sơn để qua Tàu. (tr 128)
Nói xa chẳng qua nói gần, thế nhân đãi kẻ khù khờ thế nào chả biết nữa chỉ cần hai ba chữ hoặc một câu nào đấy năm ở trang nào đó giúp mụ sử tôi giải sử ngon ơ…
Như vừa nghe tin Tôn Sĩ Nghĩ tới Lạng Sơn, cụ vua Quang Trung ta từ Phú Xuân ra lệnh bắt… 100 con voi. Rồi từ Nghệ An ngay tức thì… voi lên đường ra Thăng Long.

(còn tiếp)

Trích "Chuyện người ngoại sử" - Tác giả: Ngộ Không Phí Ngọc Hùng

 

Đăng ngày 07 tháng 08.2020