Bao giờ tới Việt Nam?
Trần Trung Đạo
Xin trả lời trước khi viết tiếp là chẳng bao giờ tới cả nếu những người Việt quan tâm vẫn thích “ăn hàm thụ”.
Người viết không nghĩ ra thuật ngữ “ăn hàm thụ” này mà chỉ nghe một nhà văn kể lại cách đây ba hôm. Anh kể trong thời gian ở tù CS ngoài Bắc, đói quá, mà con người ở đâu cũng vậy thiếu gì thường hay nghĩ và nói tới cái đó. Các anh tối ngủ hay nói chuyện nấu những món ăn ngon. Có anh diễn tả cách nấu những món ăn hấp dẫn không thua gì các chương trình thi nấu ăn nổi tiếng trên TV bây giờ. Các anh nói chẳng qua để vơi cơn đói. Nói cho đã rồi ngủ với cái bao tử trống, trong chiếc mền rách, dưới mái lán mong manh và bên ngoài là cơn mưa không biết bao giờ dứt. Các anh có lý do để “ăn hàm thụ”. Đó là chuyện các anh nói chơi ở trong tù.
Nhưng tại Việt Nam ngày nay cũng có những người biết nấu ăn, có thịt cá, có mắm muối, có hành ngò, có củi lửa, nhất là có những đầu bếp đã phải dành nhiều năm học nghề nấu trong nhiều trại tù CS, lại không muốn nấu để ăn mà chỉ thích “ăn hàm thụ”.
Những người thích ”ăn hàm thụ” nghĩ rằng sau khi thanh toán xong Venezuela, Cuba, Mỹ sẽ hướng mục tiêu sang Á Châu để thanh toán chế độ CS tại Việt Nam, hạ gục Trung Cộng mở ra một kỷ nguyên mới tự do, dân chủ cho nhân loại toàn cầu “dưới ngọn cờ vẻ vang của Mỹ”.
Người viết không dám nói họ đang giúp cho đảng CS ru ngủ người dân trong giấc mộng hão huyền. Có thể họ thật sự thích “ăn hàm thụ” những món mà họ không dám tự nấu. Việc không tự nấu chưa hẳn là sai. Dưới xã hội CS ai dám nói là không sợ. Nhưng trong lúc “ăn hàm thụ” là quyền tưởng tượng của mỗi người, truyền bá chủ trương “ăn hàm thụ” là không đúng vì họ cố tình bỏ viên thuốc độc vào nhận thức của người khác qua những lời rao giảng.
Lấy món ăn “Độc lập, tự do, hạnh phúc” ra làm ví dụ. Thật ra ba nguyên tắc này cũng chỉ ăn cắp tư tưởng chỉ đạo Tam Dân (Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc) của Tôn Dật Tiên cuối thế kỷ 19 chứ chẳng phải sáng tạo nào của đảng CSVN. Tài liệu Trung Hoa Quốc Dân Đảng viết: “Năm 1897, khi Tôn Trung Sơn đang ở Luân Đôn vận động ủng hộ cách mạng, ông thường xuyên đến Thư viện Bảo tàng Anh, nghiên cứu sâu rộng và am hiểu hệ thống chính trị cũng như tổ chức xã hội của nhiều quốc gia châu Âu. Ông kết luận rằng không một cuộc cách mạng nào có thể thành công nếu không giải quyết được những vấn đề mà người dân phải đối mặt trong xã hội, và dựa trên nghiên cứu này, ông đã xây dựng triết lý về Nguyên tắc vì sinh kế của nhân dân. Điều này đã đặt nền móng cho Ba nguyên tắc vì nhân dân, mà ông chính thức công bố khi thành lập Liên minh các quốc gia thống nhất năm 1905.” (An Introduction of the Kuomintang, Official Website of KMT, Taiwan)
Từ 1945 đến nay dân tộc Việt Nam chỉ nghe, đọc chứ chưa sờ mó, chưa nếm mùi “Độc lập, tự do, hạnh phúc” thơm tho, mặn mà như thế nào. Trong lúc tại Trung Quốc và sau này là Đài Loan, chủ nghĩa Tam Dân thực sự làm tôn chỉ để hướng tới, tại Việt Nam “Độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là “món ăn hàm thụ”. Nếu không tin, quý vị thích “ăn hàm thụ” ráng đi tìm những “chiến sĩ lão thành” còn sống sót, chắc không nhiều, trong cuộc chiến chống Pháp để nghe họ kể lại tâm huyết một thời thanh niên của họ. Họ chiến đấu chỉ vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc”. Nhiều trong số họ chết trong cuộc chiến chống thực dân là những người hy sinh cho độc lập, tự do đúng nghĩa. Tuyệt đại đa số, nếu không muốn nói rằng tất cả, đều tin như thế. Hôm nay, nếu còn sống, họ sẽ nhận ra, họ đã dành suốt một đời chiến đấu cho mục đích của chủ nghĩa CS chứ không phải vì “Độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc Việt Nam.
Những người thích ”ăn hàm thụ” phải hiểu rằng loại bỏ một cá nhân độc tài không khó nhưng thay đổi một bộ máy như đảng CSVN đã và đang chạy từ trung ương đến tận từng làng xã suốt 81 năm, tính từ 1945, là một công việc dời non lấp bể. Việt Nam không nằm trong tay một hay vài cá nhân mà bị cai trị bởi một đảng độc tài toàn diện, không có một kẽ hở nào dành cho sự đóng góp đi ngược với đường lối đảng.
Dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng, một vài cá nhân chỉ mang tính đại diện. Thế hệ Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập ra đi có thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh tiếp nối. Thế hệ Trường Chinh, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh ra đi có thế hệ Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh tiếp nối và cứ thế cho tới Nguyễn Phú Trọng, Tô Lâm. Gần một thế kỷ trôi qua, bao nhiêu triệu người Việt sinh ra, lớn lên và chết trong chiến tranh, nghèo khó vật chất lẫn tinh thần nhưng cơ cấu, hệ thống, thể chế CS còn nguyên vẹn và vẫn chạy đều.
Phần lớn các chế độ độc tài quân sự, dù cá nhân hay phe nhóm, hình thành do kết quả của các cuộc đảo chính, lật đổ các chính phủ tiền nhiệm, nhiều khi cũng rất độc tài. Cơ hội đã đưa một số sĩ quan từ vị trí của những người lính trở thành những nhà chính trị. Ngoài lòng tham quyền lực và địa vị, họ không sở hữu một vốn liếng chính trị và không chuẩn bị đầy đủ để lãnh đạo quốc gia. Tham vọng quyền lực của họ chỉ là tham vọng cá nhân, phe nhóm. Các nước Venezuela, Panama, Grenada ở Nam Mỹ hay Libya, Tunisia, Ai Cập ở Bắc Phi cũng không trải qua cuộc chiến tranh ý thức hệ tàn khốc như Việt Nam.
Chế độ CS thì khác. Cơ chế chính trị CS giống như một động cơ có đủ các bộ phận và chức năng để bảo đảm sự hoạt động của nó. Cứ thế, chỉ cần đủ xăng, đủ dầu, đủ nhớt là máy chạy. Các thế hệ CS cai trị Việt Nam giống như những người được thừa hưởng đất hương hỏa của ông bà để lại, ngoại trừ làm hề và làm biếng, họ không làm gì cả, chỉ sống và thu hoạch hoa màu. Họ có thể tranh chấp nhau, phê bình nhau, hạ bệ, thanh trừng và bỏ tù nhau nhưng giữa họ vẫn có một mẫu số chung căn bản đã đồng thuận từ khi đưa tay tuyên thệ và một quyền phải được bảo vệ bằng mọi giá, đó là quyền lãnh đạo tuyệt đối của đảng Cộng Sản Việt Nam.
Những bộ phận chính giúp bộ máy chạy từ đời này qua đời nọ gồm (1) lý luận, (2) tuyên truyền, (3) khủng bố, và sau này thêm (4) chia chác.
Về lý luận, tư tưởng. Sau 1990, ở Châu Âu, nhân loại đã bừng tỉnh, các nhà sử học, các nhà thống kê có cơ hội đánh giá những thiệt hại của nền văn minh con người do ý thức hệ Cộng Sản gây ra. Các sử gia cũng chứng minh rằng chuyện giết người không gớm tay của các lãnh tụ Cộng Sản chẳng phải là tình cờ hay ngẫu nhiên, cũng chẳng phải phát xuất từ bản chất hung ác của Stalin hay Mao mà là một đặc điểm mang tính triết học trong hệ tư tưởng Cộng Sản. Tư tưởng và lý luận CS giúp cho họ ăn ngon và ngủ yên mà không cảm thấy lương tâm cắn rứt sau khi giết người tập thể.
Về tuyên truyền. Sử gia Richard Overy trong tác phẩm “The Dictators: Hitler's Germany and Stalin's Russia” đối chiếu tâm lý người dân Đức thời Hitler và Liên Xô thời Stalin, cho thấy Hitler được dân chúng Đức ủng hộ cao nhất khi Đức chiếm Paris và Stalin được dân chúng Liên Xô ca ngợi nhiều nhất trong thời kỳ Khủng Bố Đỏ (Red Terror) 1936-1937. Khi Stalin chết, hàng triệu dân Liên Xô than khóc tiễn đưa. Theo ghi nhận của tổ chức Sahistory và South African History Online “Khoảng hai ngàn người đã thiệt mạng do bị giẫm đạp trong lễ tang.” Hitler và Stalin là hai tai họa của nhân loại nhưng là “anh hùng” trong nhận thức của người dân dễ bị lung lạc và vận dụng thời đó.
Về khủng bố. Trong thời gian qua, có người kêu gọi đảng CSVN đổi lại danh xưng cũ là đảng Lao động Việt Nam hay đặt một tên nào khác cho dễ nghe hơn là giữ tên CS đã bị văn minh nhân loại đào thải. Dù biết đó chỉ là bình mới rượu cũ nhưng đảng không làm. Lý do? “Cộng sản” không chỉ là danh từ mà còn là động từ. Nó hàm chứa các đặc điểm của một cơ chế tàn bạo về hình thức lẫn nội dung, về lý luận lẫn thực tế. Giới cai trị không dại gì thay tên đổi họ vì biết rằng chỉ hai chữ “Cộng sản” thôi đủ làm người dân mất ăn mất ngủ. Hai chữ “Cộng sản” là ngọn roi thép kinh người, một mối lo sợ ám ảnh thường trực trong tâm trí người dân Việt. Do đó, việc duy trì tên đảng CSVN là cách để cảnh cáo nhân dân Việt Nam rằng nhà tù vẫn còn đó, súng đạn cũng còn đó, các biện pháp trừng phạt không thương xót, những cách trả thù ghê rợn vẫn còn đó.
Về quyền lợi phe nhóm. Vai trò của đảng ngày nay không còn trong lý thuyết mà cụ thể dần, không còn chỉ đại diện cho ý thức hệ, cho quan điểm chính trị mà còn đại diện sự giàu sang phú quý mà họ đang hưởng thụ, cho nhà cao cửa rộng mà họ đang sở hữu. Nhìn cách chia chác quyền lợi từ trung ương tới địa phương, từ vùng miền tới từng tỉnh như Hưng Yên, Nghệ An, Hà Tĩnh v.v… để thấy chế độ CS không chỉ tàn phá tài nguyên của đất nước mà còn chia rẻ dân tộc như thế nào.
Mỹ sẽ cứu Việt Nam?
Có thể. Nhưng cứu Việt Nam là cứu đảng Cộng Sản Việt Nam chứ không phải cứu dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách CS. Sở trường của Mỹ không chỉ lật đổ mà còn nuôi dưỡng các chế độ độc tài. Trường hợp Pinochet của Chile, Noriega của Panama, Somoza của Nicaragua, Marcos của Phi Luật Tân là vài thí dụ điển hình.
Trước khi góp phần treo cổ Saddam Hussein, Mỹ đã từng nuôi dưỡng chế độ độc tài của ông ta để làm đối lực với Iran và hợp tác khai thác dầu hỏa với chế độ độc tài này. Mỹ biết Iraq dùng vũ khí hóa học trong chiến tranh chống Iran và tàn sát thường dân Kurds nhưng im lặng. Hai chục năm sau, Mỹ xua quân lật đổ Saddam Hussein cũng không phải vì lòng thương xót số phận đau thương của người dân Iraq mà chỉ vì quyền lợi của Mỹ.
Tổng thống Jimmy Carter được ca ngợi là vị tổng thống nhân từ nhất của Mỹ. Không sai. Nhưng trong buổi đón tiếp Nicolae Ceausescu tại Vườn Hoa Hồng ngày 12 tháng 4, 1978 ông đã ca ngợi Ceausescu như “một lãnh tụ vĩ đại”. TT Richard Nixon trước đó cũng vậy. TT Nixon ban cho chế độ độc tài này đặc quyền Tối Huệ Quốc (Most-Favored-Nation) và kêu gọi các ngân hàng Mỹ cho Romania vay với điều kiện rộng rãi. Số tiền nhiều tỉ đô la các ngân hàng Mỹ cho Romania vay lãng phí do quản trị kém và rơi vào tay tham nhũng. Khi nợ đến kỳ trả Ceausescu không đủ tiền nên đã áp dụng một chính sách tem phiếu vô cùng hà khắc trên đời sống của người dân Romania. Mặc dù hai tổ chức Amnesty International và Helsinki Watch công bố những vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Romania, Nicolae Ceausescu vẫn được các chính phủ Mỹ từ Richard Nixon đến Jimmy Carter tiếp đón một cách trang trọng qua ba lần viếng thăm Mỹ vào những năm 1970, 1973 và 1978. Sau khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, các tổ chức nhân quyền khám phá khoảng nửa triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng bị đối xử một cách bất nhân trong các trại mồ côi do chính sách cưỡng bách sinh đẻ gây ra. Mỹ biết rõ thực trạng đau lòng của đời sống người dân và sự vi phạm nhân quyền nghiêm trọng tại Romania nhưng không đặt ưu tiên. Lý do, Ceausescu phục vụ cho quyền lợi của Mỹ ở Đông Âu và là con cờ cần thiết của Mỹ để đối đầu với Liên Xô.
Tiếng kêu trầm thống của nhân dân Tây Tạng cất lên từ hơn nửa thế kỷ qua nhưng ngoại trừ đôi lời an ủi và dăm ba lần tiếp xúc không chính thức, không một áp lực quốc tế nào cứng rắn đủ để buộc Trung Cộng ngồi vào bàn đàm phán. Tại sao? Tây Tạng nghèo khó và chẳng có tài nguyên nào để thu hút các đại công ty tư bản Mỹ.
Trong ba ngày qua, CSVN không cất cao cùng một giọng phản đối mạnh mẽ như Nga, TC, Iran, Cuba để kết án Mỹ chẳng phải vì chính sách ngoại giao “cây tre” hay “cây sậy” gì mà là để lấy lòng Mỹ. Nhìn về viễn ảnh tranh chấp ngày càng căng thẳng giữa Mỹ-Nhật và khối TC-Nga, CSVN biết nếu rơi vào thế phải chọn họ sẽ chọn đóng vai trò của một Romania trước 1989 hơn là một Cu Ba sau 2025.
Về phía Mỹ, họ chẳng dại gì bỏ công sức và có thể cả xương máu để can thiệp vào nội tình Việt Nam. Mỹ chỉ cần CSVN biết nghe là đủ. Mỹ, ngoài ra, không muốn động tới Việt Nam vì cuộc chiến Việt Nam cho đến nay vẫn còn là mối ám ảnh hãi hùng trong tâm lý người dân Mỹ. TT Ronald Reagan nhắc lại lý do khi can thiệp quân sự vào Grenada ông phải thực hiện hết sức bí mật chỉ vì lúc đó tâm lý người dân Mỹ còn bị ám ảnh bởi “Hậu Hội chứng Việt Nam” (Post-Vietnam syndrome), tức tâm lý do dự và chống đối của dân Mỹ khi chính phủ Mỹ can thiệp quân sự vào một nước khác. Phải nhiều thế kỷ nữa Hội chứng Việt Nam (Vietnam syndrome) mới hy vọng bớt ám ảnh. (Ronald Reagan, “An American Life”, page 451)
Trong bang giao chính trị thế giới, bạn hay thù nhiều khi chỉ là cách gọi, nhưng cơ hội lại là điều có thật. Các cường quốc tranh giành nhau, chém giết nhau từ Nam Mỹ đến Trung Đông, dù che đậy dưới khẩu hiệu gì, thực chất cũng chỉ vì tài nguyên và an ninh, nhưng đó cũng là cơ hội cho các dân tộc bị trị dưới ách độc tài vận dụng.
Trong bang giao quốc tế sự tương hợp giữa quyền lợi của một dân tộc và quyền lợi của cường quốc vô cùng quan trọng. Một danh sách dài những quốc gia trở nên dân chủ và thịnh vượng nhờ tương hợp với Mỹ như Nhật Bản, Nam Hàn, Jordan, Columbia và phần lớn Tây Âu.
Tại buổi hội thảo đánh dấu 70 năm Kế Hoạch Marshall ngày 3 tháng 4, 2018, sử gia kiêm chiến lược gia đồng thời cũng là Phụ tá Bộ trưởng Ngoại Giao Mỹ A. Wess Mitchell phát biểu: “Hoa Kỳ có nhiều lựa chọn về cách ứng phó với tình cảnh khó khăn của châu Âu. Nhưng thay vì trừng phạt kẻ thù hay rút lui khỏi các vấn đề của châu Âu như chúng ta đã làm sau năm 1918, các nhà lãnh đạo Mỹ đã chọn ở lại châu Âu và sử dụng nguồn lực quốc gia khổng lồ của mình để nuôi dưỡng và xây dựng lại các xã hội tan vỡ của châu Âu. Như Ngoại trưởng Marshall đã nói vào năm 1947, Hoa Kỳ sẽ ‘làm bất cứ điều gì có thể để hỗ trợ khôi phục kinh tế bình thường trên thế giới, nếu không sẽ không thể có sự ổn định chính trị hay hòa bình được bảo đảm’.Trong những năm tiếp theo, Hoa Kỳ đã viện trợ hơn 13 tỷ đô la cho các quốc gia châu Âu, tương đương hơn 110 tỷ đô la ngày nay. Tiền chỉ là một phần của khoản đầu tư này. Chúng ta đã xây dựng các căn cứ quân sự thường trực của Hoa Kỳ để gìn giữ hòa bình trong tương lai. Và chúng ta đã xây dựng các thể chế mới, cùng với các đồng minh châu Âu, chúng ta đã thành lập NATO và giúp đỡ việc thành lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu, sau này trở thành Liên minh châu Âu.” (Assistant Secretary for European and Eurasian Affairs A. Wess Mitchell speaks at the U.S. Diplomacy Center event "Perspectives on the Marshall Plan" on April 3, 2018, in Washington, DC.)
Hẳn nhiên Mỹ cũng lợi rất nhiều qua Kế Hoạch Marshall nhưng quyền lợi của Mỹ tương hợp với quyền lợi của các nước Tây Âu để ngày nay có một Tây Âu dân chủ và thịnh vượng.
Khác với mục đích của các cường quốc, cuộc đấu tranh của người Việt là cuộc đấu tranh cho quyền được sống trong một xã hội tự do, dân chủ và thăng tiến. Người Việt quan tâm hãy tận dụng mọi cơ hội để đạt các mục đích đó. Không một Mỹ, Nhật nào ủng hộ nếu không có một đối lực dù nhỏ trước đảng CS. Một trong những lý do Đồng Minh không giải phóng Tây Ban Nha khỏi ách độc tài Francisco Franco (1892-1975) cuối Thế Chiến Thứ Hai bởi vì tại Tây Ban Nha lúc đó không có một phong trào dân chủ nào tương đối mạnh hay một chính phủ lưu vong có uy tín để lèo lái Tây Ban Nha sau Franco. Anh và Pháp thắng trận nhưng nền kinh tế gần như phá sản.
Những ai quan tâm đến vận nước Việt Nam thay vì nói theo ý đảng hay ngồi chờ một người nào đó anh minh, sáng suốt cỡ “bậc chí thánh” trong truyện ngắn Linh Nghiệm của Trần Huy Quang đến soi lối dẫn đường, nên gióng lên tiếng nói thay cho những người đang khốn khổ trong tù và đang chịu đựng ngoài tù.
Bớt rao giảng những chuyện xa vời. Người Việt không quan tâm hỏa tinh (Mars) hay mộc tinh (Jupiter) có nước ngọt hay không nhưng quan tâm đồng bào các vùng bị lũ lụt ở Khánh Hòa, Gia Lai, Lâm Đồng hôm nay có đủ nước ngọt uống chưa.
Dân chủ không phải là khái niệm trong sách vở hay lý thuyết mà là quyền có thể sờ mó, nắm bắt được như hạt gạo, chén cơm, ổ bánh mì, công ăn việc làm, lá phiếu bầu của con người đang sống hôm nay. Tuổi trẻ Nepal đã đứng lên. Tuổi trẻ Bangladesh đã đứng lên. Tuổi trẻ Iran đang đứng lên. Tuổi trẻ Cuba sẽ sớm đứng lên. Tuổi trẻ Việt Nam cũng thế, có thể còn khá lâu, nhưng chỉ tự đứng lên trước mới thay đổi được vận mệnh của chính mình.
Trần Trung Đạo
08 January 2026
https://www.facebook.com/trantrungdao
Số phận Nicolas Maduro và viễn ảnh Venezuela
Trần Trung Đạo
Một căn bệnh không thuốc nào chữa mà những kẻ độc tài đều mắc phải là mê quyền lực. Ngoại trừ một số chết già vì điều kiện cách mạng dân chủ tại quốc gia họ cai trị chưa đến điểm chín muồi, một phần không nhỏ đã chết một cách thê thảm bằng những cực hình mà họ chưa bao giờ tưởng tượng ra khi còn nắm quyền sinh sát.
Nicolas Maduro học thuộc những kết liễu thê thảm của Muammar Gaddafi, Saddam Hussein, Ali Abdullah Saleh, Nicolae Ceausescu và nhiều người khác.
Nicolas Maduro học thuộc bài học Grenada 1983 dưới thời TT Ronald Reagan dẫn tới sự sụp đổ của chế độc tài Marxist Bernard Coard.
Nicolas Maduro học thuộc bài học Panama dưới thời TT George H. W. Bush 1990 dẫn tới việc bắt giữ tướng Manuel Noriega. Noriega nguyên là một đồng minh với Mỹ bị kết án 40 năm tù, sau đó được giảm xuống 30 năm, về tội buôn bán ma túy. Ông qua đời tại Panama City năm 2017 ở tuổi 83.
Học thuộc là một chuyện nhưng chữa khỏi bệnh mê quyền lực đã ăn sâu vào trong xương tủy là chuyện khác. Vi trùng quyền lực bám lấy Maduro cho đến giờ phút cuối cùng.
Nicolas Maduro có nhiều cơ hội bước xuống một cách hợp hiến, hợp pháp và rời Venezuela để sống một cách bình yên, nhàn hạ với vợ và con ở một quốc gia chấp nhận ông như Qatar chẳng hạn.
Mỹ tấn công Venezuela nhằm loại bỏ Nicolas Maduro cũng không phải bất ngờ. Theo Reuters, đàm phán cho một sự rút lui của Nicolas Maduro kéo dài nhiều tháng trước. Việc đánh chìm các tàu bè “chở ma túy” trong vịnh Caribbean là những cảnh cáo cho Maduro biết một hành động quân sự quy mô hơn nhắm vào ông ta, sau khi không phận Venezuela bị đóng, sẽ xảy ra và vừa xảy ra.
Maduro, 63 tuổi, từ một tài xế xe bus, chưa học hết bậc trung học, đã thăng tiến nhanh chóng nhờ sự nâng đỡ của nhà độc tài Hugo Chavez qua nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Quốc Hội, Bộ trưởng Ngoại Giao, Phó Tổng thống, và cuối cùng là Tổng thống Venezuela. Khi chiếm được quyền lực, Maduro cai trị bằng sắc lệnh một hình thức độc tài do chính đảng Xã Hội Chủ Nghĩa Đoàn Kết Venezuela (United Socialist Party of Venezuela) do ông ta lập ra và tự trao quyền.
Cuộc bầu cử tổng thống 2024 là một cuộc bầu cử gian lận. Theo bản tin của AP loan ngày 30 tháng 7, 2024, ứng cử viên Edmundo González tuyên bố có bằng chứng số phiếu bầu cho ông ta nhiều gấp đôi số phiếu của Nicolas Maduro. Trên khắp Venezuela các cuộc biểu tình nổ ra đòi Maduro phải bước xuống. Carter Center, một tổ chức theo dõi các cuộc bầu cử lớn trên thế giới, nhận xét: “Cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 của Venezuela không đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tính liêm chính bầu cử và không thể được coi là dân chủ.”
Mỹ và trên 50 quốc gia trong đó có Cộng Đồng Âu Châu không công nhận Nicolas Maduro.
Tại Nam Mỹ, một loạt các quốc gia như Argentina, Brazil, Chile, Colombia, Costa Rica, Ecuador, Guatemala, Honduras, Panama, Paraguay, Peru lên tiếng công nhận tổng thống Juan Guaidó.
Trong quan điểm của Mỹ, vị trí của Maduro hôm nay không khác gì nhiều so với vị trí của tướng Manuel Noriega năm 1990. Năm 1989, Noriega cũng giải tán quốc hội và tiếm quyền.
Học Thuyết Monroe (The Monroe Doctrine) Và Vận Mệnh Hiển Nhiên (Manifest Destiny)
Thuyết Monroe chủ trương chống lại sự can thiệp của châu Âu đối với Mỹ và các nước Mỹ Châu bắt đầu từ thời TT James Monroe vào năm 1823. Đây là một trong những lý thuyết chính trị có ảnh hưởng lâu dài nhất trong lịch sử bang giao quốc tế của Hoa Kỳ.
“Học thuyết Monroe là chính sách nổi tiếng nhất của Hoa Kỳ đối với Tây bán cầu. Được giấu kín trong một thông điệp thường niên gửi đến Quốc hội của Tổng thống James Monroe vào tháng 12 năm 1823. Học thuyết này cảnh báo các quốc gia châu Âu rằng Hoa Kỳ sẽ không dung thứ cho việc thuộc địa hóa thêm nữa hoặc các chế độ quân chủ bù nhìn. Học thuyết này được hình thành để đáp ứng những mối quan ngại lớn của thời điểm đó, nhưng nó nhanh chóng trở thành khẩu hiệu trong chính sách của Hoa Kỳ ở Tây bán cầu.” (Monroe Doctrine, 1823, Office of Historian, State Department)
“Vận Mệnh Hiển Nhiên” (Manifest Destiny) , xuất hiện khoảng 1845, là một câu nói được biết do nhà báo John L. O'Sullivan viết đầu tiên. Câu nói này lúc đầu có tính cách dân gian nhưng sau đó đã trở thành một thúc giục tinh thần cho nước Mỹ còn non trẻ để khai phá và mở rộng lãnh thổ về phía tây.
Điểm khác nhau căn bản giữa Mỹ và các thế lực bành trướng khác, sự mở rộng của Mỹ không dẫn tới phong kiến hóa hay thuộc địa hóa vùng đất mới mà “dẫn dắt thế giới trong quá trình chuyển đổi sang chế độ dân chủ.” (John O’Sullivan Declares America’s Manifest Destiny, 1845, The United States Magazine and Democratic Review, Volume 17)
Chính trị Mỹ có thể khác nhau về cách áp dụng trong từng giai đoạn nhưng Mỹ luôn đề cao giá trị dân chủ. Một khi các lực lượng dân chủ đủ mạnh để đứng lên lật đổ chế độ độc tài và không làm phương hại đến quyền lợi của Mỹ, chính phủ Mỹ luôn chọn đứng về phía lực lượng dân chủ.
Trên nguyên tắc, lý thuyết Monroe chấm dứt sau Đại Suy Thoái (1932) khi các tổng thống Herbert Hoover và Franklin D. Roosevelt cải thiện quan hệ với các nước Châu Mỹ Latin.
Tuy nhiên trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, thuyết này lại được áp dụng một cách rộng rãi bởi nhiều tổng thống Mỹ như TT John F. Kennedy trong biến cố Vịnh Con Heo, Cuba và TT Ronald Reagan trong chiến tranh chống chế độ CS Sandinistas tại Nicaragua.
Thế giới thay đổi nhiều sau thập niên 1990. Các chính sách quân sự, đảo chánh hay lật đổ chính phủ thời Chiến Tranh Lạnh không còn được áp dụng. Tuy nhiên, mục đích “lục địa Mỹ châu của người châu Mỹ” xác định trong thuyết Monroe vẫn còn được bảo vệ bằng nhiều cách.
Quyền Lợi Nước Mỹ Và Công Pháp Quốc Tế
Trong lịch sử Mỹ, công pháp quốc tế và quyền lợi nước Mỹ không phải lúc nào cũng song song. Lịch sử Mỹ để lại nhiều bài học về sự mâu thuẫn giữa quyền lợi quốc gia và công pháp quốc tế, và Mỹ đã chọn bảo vệ quyền lợi quốc gia.
Nhiều tổng thống Mỹ từ Ulysses S. Grant, Theodore Roosevelt, John F. Kennedy, Ronald Reagan tới George H. W. Bush và hôm nay Donald Trump đều đã áp dụng Thuyết Monroe để bảo vệ vùng quyền lợi và an ninh của Mỹ ở Châu Mỹ.
Việc tấn công Venezuela và bắt sống Maduro sáng ngày 3 tháng 1, 2026, chắc chắn gây nhiều phản ứng tùy thuộc vào mối quan hệ giữa các quốc gia với chế độ Maduro. Không ngạc nhiên khi Nga, Iran, Trung Cộng là những nước đầu tiên kết án Mỹ.
Đây cũng không phải lần đầu. Khi tấn công Grenada và Panama Mỹ đã bị kết án bởi hầu hết các tổ chức quốc tế trong đó có Liên Hiệp Quốc, Hiệp Hội Các Quốc Gia Mỹ Châu (The Organization of American States (OAS), Quốc Hội Âu Châu (The European Parliament). Ngay cả đồng minh thân cận nhất của TT Reagan thời đó là bà Margaret Thatcher cũng phàn nàn việc Mỹ xâm lăng Grenada vì Grenada vốn là thuộc địa của Anh.
Ai Quyết Định Tương Lai Của Một Dân Tộc?
Tuy nhiên, yếu tố quyết định tương lai của một dân tộc dĩ nhiên không phải là các nhà độc tài, cũng không phải Mỹ mà là chính người dân nước đó.
Trong lúc người dân không thể thay đổi được cục diện thế giới, họ có thể thay đổi được chính họ.
Các cấp lãnh đạo mới nhìn vào thực tế đất nước và vận dụng được thế cờ quốc tế để có lợi cho hướng đi của đất nước họ. Nhìn đúng như Nhật Bản sau Thế Chiến Thứ Hai sẽ mở ra cánh cửa tương lai, nhìn sai như Afghanistan sau 2001, cánh cửa tương lai sẽ đóng lại.
Đại đa số dân Panama ủng hộ việc Mỹ loại bỏ Noriega và vận dụng cơ hội để thăng tiến Panama dân chủ.
Trong tác phẩm “Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean”, Robert Pastor, Giáo sư Quan Hệ Quốc Tế tại Đại Học American viết:
“Cuộc xâm lược bị chỉ trích trên toàn thế giới, nhưng khi đó lại được đánh giá là thành công ở Panama và Hoa Kỳ. Một cuộc thăm dò của CBS News tại Panama vào đầu tháng 1 cho thấy 92% người trưởng thành ở Panama tán thành việc gửi quân, và 76% mong muốn Hoa Kỳ đã gửi quân trong cuộc đảo chính hồi tháng 10. Người dân Mỹ cũng tán thành cuộc xâm lược: 74% cho rằng nó là chính đáng, và chỉ 7% nghĩ rằng Hoa Kỳ không nên hành động như vậy. Quan trọng hơn, cuộc xâm lược đã cải thiện đáng kể uy tín của Bush so với các nước khác. (Robert Pastor, Exiting the whirlpool : U.S. foreign policy toward Latin America and the Caribbean, 1992)
Cũng trong tác phẩm nêu trên tổ chức nhân quyền hàng đầu thế giới là Human Rights Watch mô tả thái độ của người dân Panama là “có thiện cảm” với cuộc tấn công của Mỹ.
Đại đa số dân Grenada ủng hộ việc Mỹ loại bỏ chế độ Marxist tại Grenada và vận dụng cơ hội để thăng tiến Grenada dân chủ.
Theo New York Times số ra ngày 6 tháng 11, 1983, ký giả Adam Clymer tường thuật: “Theo một cuộc thăm dò ý kiến do CBS News thực hiện hôm thứ Năm, đại đa số người dân Grenada hoan nghênh cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào hòn đảo của họ. Họ cảm thấy rằng quân đội Mỹ đã đến để giải phóng họ khỏi ách thống trị của Cuba và ngăn chặn việc xây dựng một căn cứ quân sự. Một bộ phận đa số khác cho biết họ tin rằng người Cuba đang xây dựng sân bay mới trên đảo vì mục đích quân sự của Cuba và Liên Xô, chứ không phải để phát triển kinh tế hay du lịch.” (The New York Times, November 6, 1983, Section 1, Page 21)
Tương tự, đa số dân Venezuela có thể cũng sẽ đồng ý với cuộc “xâm lăng giải cứu” của Mỹ, bởi vì Mỹ giúp họ lật đổ chế độ độc tài và sẽ có đời sống tốt hơn.
Venezuela từng là quốc gia giàu nhất Nam Mỹ nhưng đã bị Maduro làm cho phá sản, thiếu ngay cả các vật dụng tiêu dùng cần thiết hàng ngày. GDP của Venezuela rơi từ $372.59 tỉ dollar năm 2012 xuống $108.6 tỉ dollar trong cuối năm 2025. Lạm phát gia tăng 172% trong năm 2025. Trong tất cả nạn nhân của Maduro, trẻ em chịu đựng nặng nhất. Nhiều em không thể đi học vì thiếu thức ăn.
Theo Cao Ủy Tỵ Nạn LHQ (UNHCR) đời sống và áp bức chính trị đã đẩy gần 8 triệu người người dân ra khỏi nước tìm đường sống. Cũng theo cơ quan quốc tế này “đây là cuộc khủng hoảng di dân lớn nhất thế giới từ trước tới nay.”
Thật khó tin, nhưng theo AP, mức lương hàng tháng tối thiểu của Venezuela là 130 bolivar, tương đương $0,90 đô la Mỹ, không tăng kể từ năm 2022, thấp hơn nhiều so với mức nghèo cùng cực do Liên Hợp Quốc quy định là $2,15 đô la Mỹ một ngày. (AP, For Many Families, Every Meal Is A Struggle In Venezuela’s Economic Crisis, August 27, 2025)
Theo Human Right Watch, trước và sau mùa bầu cử tổng thống 2024, “hơn 1,900 tù nhân chính trị đã bị bắt giữ kể từ ngày 29 tháng 7, trong đó có 42 thiếu niên từ 14 đến 17 tuổi, vẫn bị giam giữ tính đến cuối tháng 11. Theo tổ chức phi lợi nhuận Foro Penal, những vụ bắt giữ này góp thêm vào tổng số 17,882 vụ bắt giữ vì lý do chính trị kể từ năm 2014.”
Những Thành Tựu Của Panama Và Grenada
Chỉ hai tháng sau khi lật đổ Noriega, tân tổng thống Guillermo Endara đã giới hạn vai trò của quân đội và thay thế bằng một lực lượng cảnh sát quốc gia nhằm mục đích chính là duy trì trật tự. Ngày nay, Panama là một nước dân chủ cao với Global Freedom Score 83/100 chỉ sau Mỹ (84/100) và trên Ba Lan (82/100).
Freedom House tổng kết về thể chế chính trị tại Panama: “Các thể chế chính trị của Panama mang tính dân chủ, với các cuộc bầu cử cạnh tranh và sự chuyển giao quyền lực có trật tự. Quyền tự do ngôn luận và hội họp nhìn chung được tôn trọng. “
Về kinh tế, theo World Bank, GDP tính theo đầu người dân Panama tăng bảy lần từ $2,462.00 năm 1990 đến $19,162.00 năm 2024.
Những thành tựu tốt đẹp cũng đến với Grenada. GDP tính theo đầu người tại Grenada tăng hơn 8 lần từ $1,388 năm 1983 tới $11,705 năm 2024.
Về chính trị, Freedom House nhận xét Grenada là “một nền dân chủ nghị viện thường xuyên tổ chức các cuộc bầu cử minh bạch.” Global Freedom Score của Grenada 89/100 cùng hạng với Pháp và Ý.
Venezuela trải qua nhiều chế độ độc tài chuyên chính từ 1948 dưới nhiều hình thức. Nhưng ngoài máu, nước mắt và tiếng than vô vọng, người dân Venezuela không có một tấc sắt trong tay để chống lại bạo quyền.
Tuy nhiên có vài điểm khác quan trọng giữa ba nước cần lưu ý: (1) dân số và (2) diện tích lãnh thổ và (3) quân đội.
Dân số Grenada vào năm 1983 chỉ vỏn vẹn 94,948 người với diện tích 344.5 kilomet vuông. Dân số Panama năm 1990 chỉ 2.4 triệu người với diện tích 74,340 kilomet vuông. Trong khi đó, theo WorldOMeter, dân số Venezuela năm 2025 là 28,516,896. Diện tích của Venezuela là 912,050 kilomet vuông.
Theo Giáo sư John Polga-Hecimovich, một học giả về Venezuela tại the U.S. Naval Academy: “Venezuela cũng sở hữu một trong những đội quân thường trực lớn nhất khu vực Mỹ Latinh. Trên tất cả các binh chủng, Venezuela có khoảng 150.000 binh sĩ trong lực lượng vũ trang.” (Simon Romero, How Could Venezuela’s Military Respond to U.S. Threats? Here’s What to Know. The New York Times, Nov. 5, 2025 Updated Dec. 18, 2025)
Hơn một nửa diện tích của Venezuela là rừng. Bất cứ một biến động chính trị hay quân sự lớn nào cũng có thể dẫn đến chiến tranh hao mòn và sa lầy trong chiến tranh du kích. Giáo sư John Polga-Hecimovich, người đang giảng dạy tại Học Viện Hải Quân Hoa Kỳ lưu ý “ Kho vũ khí bất thường của Venezuela đến từ các đối thủ của Mỹ như Nga, Iran và Trung Quốc.”
Nhìn từ đâu và góc độ nào?
Nhìn vào một biến cố chính trị ai cũng thấy giống nhau, đọc giống nhau nhưng kết luận có thể mỗi người mỗi khác tùy theo quan điểm, lập trường chính trị và đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp. Nếu nhìn từ phía Nga, TC hay Iran chắc chắn bạn sẽ nghe những lời kết án nặng nề. Nếu đứng trên phía luật quốc tế, bạn sẽ phê bình nghiêm khắc. Thế giới ngổn ngang, không có sai hay đúng chỉ khác chỗ đứng và góc nhìn.
Nhưng nhìn đâu chăng nữa, bạn cũng nên dành một phút để nhìn lại số phận của những người dân Venezuela chịu đựng triền miên dưới các ách độc tài và chúc cho họ có một tương lai tốt đẹp hơn những ngày sống dưới chế độ Hugo Chávez và Nicolas Maduro.
Trần Trung Đạo
04 January 2026
https://www.facebook.com/trantrungdao
Đăng ngày 20 tháng 01.2026
