Ile de Lumière

Chiếc tàu đã cứu hàng chục ngàn thuyền nhân Việt Nam

Từ Thức

ile de lumière

Nhân dịp các hội đoàn VN ở Đức xây tượng để tri ân ông Rupert Neudeck, người đã cứu trên 10 ngàn thuyền nhân với chiếc tầu Cap Anamur, cũng nên nhớ tới một chiếc tàu khác, Île de Lumière. Một chiếc tàu Pháp đã cứu hàng chục ngàn boat people khác.

Cái bắt tay lịch sử
Ile de Lumière (Đảo Ánh Sáng) cũng tạo ra cái bắt tay lịch sử của hai trí thức, triết gia hàng đầu của Pháp: một của phe tả, Jean Paul Sartre, một của phe hữu, Raymond Aron. Và làm lung lay, nếu không tan vỡ, giấc mộng thiên đường XHCN, thế giới đại đồng của cả một lớp trí thức không tưởng.
Ile de Lumière ra đời do sáng kiến của Bernard Kouchner, được gọi là French Doctor, vì đã sáng lập Médecins Sans Frontières, tổ chức Bác sĩ Không Biên Giới, đưa các y sĩ Pháp đi giúp đỡ nạn nhân chiến tranh hay thiên tai trên khắp thế giới.

b.kouchner

Bernard Kouchner

Trí thức Pháp thời đó có một ranh giới không ai muốn, hay có can đảm, vượt qua: tả và hữu.
Sartre và Aron chống nhau kịch liệt. Sartre thiên Cộng, đã từng nói "những người chống Cộng là những con chó" (Tout anticommuniste est un chien). Và không lỡ một cơ hội đả kích, miệt thị Aron.
Aron là triết gia, bình luận gia chính trị hiếm hoi đã viết sách, báo không ngừng nghỉ, để vạch trần bộ mặt thực của Cộng Sản, thực chất của chiến tranh VN, và hiểm họa độc tài toàn trị đe dọa thế giới.
Đó là một thái độ can đảm hiếm có ở một nước, một thời điểm, thiên tả đồng nghĩa với trí thức. Những người chống Cộng không dám bày tỏ ý kiến của mình, sợ bị coi là phản động (réactionnaire), chưa nói tới chống Cộng kiên trì, với những lập luận sắc bén như Raymond Aron hay Jean François Revel. Câu nói quen thuộc của trí thức thời đó: "Thà lầm lẫn với Sartre còn hơn có lý với Aron" (Il vaut mieux avoir tort avec Sartre que raison avec Aron). Đó là cái phi lý của tinh thần mù quáng vì ý thức hệ. Sartre được ngưỡng mộ, Aron bị đả kích, chế nhạo, mặc dù với thời gian, người ta thấy, về chính trị, Sartre lầm từ đầu tới cuối, trong khi Aron có lý trên mọi phương diện. Sartre đã mua chuộc những lầm lẫn của mình bằng một thái độ đáng phục: khi tuổi đã cao, gác bỏ tự ái, đã cùng với Aron gõ cửa chính quyền, kêu gọi cứu giúp khẩn cấp các thuyền nhân VN.

Từ Hải Hồng tới Ile de Lumière
Một ngày gần cuối năm 1979, chuyện khó tin nhưng có thực đã xẩy ra: hai ông lãnh tụ trí thức không đội trời chung, Satre và Aron, ngồi lại với nhau, lên tiếng ủng hô dự án Île de Lumière, kêu gọi dân Pháp mở rộng bàn tay tiếp đón thuyền nhân, nạn nhân của cái mà trước đó những trí thức như Sartre nghĩ là một cuộc giải phóng. Khi quân Khmer Đỏ tiến vào Pnom Penh, tờ báo trí thức thiên tả Le Monde viết: dân chúng chen lấn hai bên đường đón rước.
Thảm trạng của boat people trên chiếc thuyền Hải Hồng trên màn ảnh truyền hình đã làm họ tỉnh ngủ.
Hình ảnh lạ hơn nữa là Sartre cùng với Aron vào điện Elysée, yêu cầu tổng thống Giscard d’Estaing đón nhận những thuyền nhân trên lãnh thổ Pháp.

aron & sartre

Sartre và Aron tại dinh Tổng thống Pháp. Sartre bên trái, triết gia Gluckmann ở giữa, Aron, bên phải

Sartre là một trí thức anarchiste, không nhìn nhận nhà cầm quyền, hay những cơ cấu của xã hội trưởng giả, đã từng từ chối giải Nobel Văn chương.
Nước Pháp còn là nơi tiếng nói của những trí thức lớn có ảnh hưởng đáng kể. Việc Sartre cùng với Aron vào dinh Tổng thống kêu gọi giúp boat people gây mộ tiếng vang lớn trong dư luận.
Tổng thống Giscard d’Estaing chấp thuận, dân chúng vui lòng đón tiếp và tận tình giúp đỡ trên 128. 000 thuyền nhân, chỉ trong những năm đầu, trong đó nhiều người đã được tàu Ile de Lumière cứu vớt ngoài khơi.
Nên nhớ lúc đó kinh tế Pháp đang kiệt quệ. Chính phủ Pháp đã quyết định ngưng nhận di dân. Việc đón tiếp, giúp đỡ, cấp giấy cư trú và giấy phép hành nghề dễ dàng cho hàng trăm ngàn boat people đi ngược lại chích sách nhà nước đã được dân Pháp ủng hộ. Hầu như không có một phản ứng tiêu cực nào, tại một xứ chia làm hai; cái gì phe tả cho là tốt, phe hữu cho là xấu. Hay ngược lại.
Là sáng kiến của Bernard Kouchner, dự án Một con tàu cho Việt Nam được sự ủng hộ tích cực của các trí thức tả phái nổi danh như triết gia Michel Foucault, ca sĩ Yves Montand, tài tử Simone Signoret, trước đó chống Mỹ, chống chiến tranh VN.
Hình Sartre ngồi họp báo với Aron sau khi gặp Tổng thống Pháp chạy trên trang nhất tất cả các tờ báo lớn nhỏ. Ngồi giữa là André Gluckmann, triết gia thiên tả, maoiste (người tôn thờ Mao), sau vụ này trở thành chống Cộng.

aron & sartre

Ngày nay, tất cả đều đã qua đời, Sartre, Foucault, Aron, Gluckmann , Signoret, Montand. Bernard Kouchner về hưu. Sau khi tàu Ile de Lumière ngưng hoạt động, Kouchner rời Médecins Sans Frontières, sáng lập và điều hành tổ chức Médecins Du Monde (Y Sĩ Thế Giới), trước khi trở thành Tổng trưởng Ngoại Giao dưới thời Sarkozy.

Nhà thương nổi
Ile de Lumière là một chiếc tàu cũ, 1500 tonnes, 90m chiều dài, được sửa cấp tốc, chạy tới đảo Poulo Bidong, ngoài khơi Mã Lai, khởi đầu dùng làm nhà thương nổi, với 100 giường, chữa trị cho 20.000 thuyền nhân trên đảo.
Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. "Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách (digne), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai".

b.kouchner

Bên trái: thuyền trưởng Herbelin, bên phải: Kouchner

Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới: ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.
Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương. Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.
Ile de Lumière đã cứu hàng chục ngàn người, chở về Pulau Bidong chờ ngày được nhận đi định cư ở Hoa Kỳ, Canada hay Âu Châu.
Sau 14 tháng ngược xuôi, Ile de Lumière được thay thế bởi một chiếc tầu mới, Ile de Lumière II. Herbelin thành hôn với một phụ nữ thuyền nhân Việt Nam, trở thành thuyền trưởng một tàu thương mại. Làn sóng vượt biển bớt đi từ 1986, khi VN bắt đầu cởi trói, ít nhất về kinh tế.
Ile de Lumière đánh dấu một phong trào tương trợ đáng cảm phục ở Pháp và sau đó ở các nước Tây Phương.

ile de lumière

Bernard Kouchner nhân đó đưa ra chủ thuyết "Devoir d’ingérence" (Bổn phận phải can thiệp), theo đó các nước dân chủ Tây phương có bổn phận phải can thiệp,

để cứu các nạn nhân, tại những nơi nhân quyền bị chà đạp. Sau đó, các nước Tây phương đã nhân danh nguyên tắc này để đổ bộ can thiệp ở Kosovo.

Ile de Lumière cũng đánh dấu sự thức tỉnh của trí thức thiên tả Pháp. Trước đó, từ 1975 tới 1979, Khmer Đỏ thảnh thơi tàn sát ở Cambodge, không ai phản ứng gì. Người ta bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để khỏi nghe, khỏi thấy, khỏi nói tới những sự thực phũ phàng.
Người ta không quên câu nói nổi tiếng của Sartre, khi giải thích tại sao ông ta không đề cập đến Goulag và những chà đạp nhân quyền ở Nga Xô Viết: "Il ne faut pas désespérer Billancourt. Không nên làm Billancourt tuyệt vọng". Boulogne Billancourt là một ngoại ô của Paris, nơi có trụ sở của hãng Renault, tượng trưng cho thợ thuyền Pháp. Không đả động gì tới những tệ hại ở Nga để khỏi làm tuyệt vọng giới thợ thuyền, đang mơ thiên đường XHCN như ông già trong thơ Tố Hữu, ngồi đan rổ mơ nước Nga.
Raymond Aron, tác giả cuốn L’Opium des intellectuels (Thuốc phiện của trí thức) viết: những trí thức thiên tả là những nhà cách mạng phòng khách, căm ghét xã hội đang sống, một xã hội cho họ một đời sống sung túc và đủ mọi quyền tự do, trong đó có quyền tự do ngôn luận.

Sau làn sóng boat people, sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ, phong trào thiên tả đi xuống, đảng Cộng Sản Pháp trước đó là một trong hai chính đảng lớn nhất, làm mưa làm gió ở Pháp, ngày nay trở thành một đảng bỏ túi, với trên 1% phiếu bầu.

Từ Thức
(Paris, Septembre 2017)


Xây tượng Rupert Neudeck

ân nhân của thuyền nhân VN

Một số đoàn thể VN tại Đức cho hay một tượng đồng để vinh danh và tri ân ông Rupert Neudeck, ân nhân lớn của thuyền nhân VN sẽ được dựng trong lâu đài Wissem ở thành phố Troisdorf.
Rupert Neudeck là một trong những người Đức được kính trọng nhất , đã được trao tặng nhiều giải về nhân quyền. Ông cùng bà, Rachel Neudeck, đã lập "Một con tầu cho VN" và đã cứu ít nhất 10.000 thuyền nhân VN những năm 80.
Là ký giả, triết gia, ông đã bỏ trọn cuộc đời để cứu giúp những người thiếu may mắn.
Ông đã lập và điều hành tổ chức Cap Anamur, giúp nạn nhân chiến tranh ở Phi Châu, và sau đó, tổ chức "Mũ Xanh", Green Helmets, giúp dân chúng ở Trung Đông. Đôi khi được coi như một ông thánh, Rupert Neudeck mất năm ngoái, thọ 77 tuổi.
Neudeck là ân nhân của người Việt, là mối kiêu hãnh của người Đức. Hiện nay có 4 trường học ở Đức mang tên Rupert Neudeck.
Tượng đồng sẽ khởi công và có thể hoàn tất cuối năm nay hay đầu năm tới, với sự đồng ý của bà Neudeck và thành phố Troisdorf, trong công viên của lâu đài Wissem, một trung tâm du lịch, giữa hai bảo tàng viện.
Tượng đồng sẽ do Joost Mayer, nghệ sĩ điêu khắc và giảng viên tại đại học nghệ thuật Aachen đảm nhận. Dưới tượng sẽ ghi câu châm ngôn của thành phố Danzig, ngày nay là Gdansk, Ba Lan, nơi ông sinh ra: "Không táo bạo, cũng chẳng sợ hãi" và một hàng chữ đơn giản: "Rupert Neudeck 1939-2016. Do thuyền nhân VN tại Đức xây dựng".
Không liều lĩnh, nhẹ dạ, cũng không sợ hãi, không cúi đầu trước bất cứ bạo lực nào, suốt đời làm hết sức mình để giúp người khác, đó cũng là nhân sinh quan của Rupert Neudeck
Việc vinh danh để bày tỏ lòng tri ơn đối với những nhân vật địa phương đã hết lòng giúp chúng ta trong những bước đầu cực kỳ khó khăn là một thái độ đẹp, một việc rất nên làm. Biết nhớ ơn những ân nhân của mình là dấu hiệu của một dân tộc có văn hóa, của những người tử tế.
Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang cười, râu, kính mắt và cận cảnh

Từ Thức
31/08/2017


Việt Nam, Tự do huỷ hoại thân thể

Từ Thức

Thiếu ăn gây những hậu quả tai hại về sự phát triển cơ thể và trí não. Về cơ thể, người ta đã biết từ lâu, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy trí óc cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Đây không phải chỉ là một nguồn tin y khoa. Đây là một vấn đề khẩn trương đối với một dân tộc như Việt Nam, nơi sự thiếu thốn dinh dưỡng càng ngày càng nghiêm trọng. Không những vì thiếu sinh dưỡng, bộ óc của lớp trẻ VN, mà còn bị tàn phá bởi ma túy, thuốc lá, rượu chè. Người ta không thể không bi quan cho tương lai dân tộc, trong một thời đại sức mạnh, khả năng phát triển của một quốc gia đặt căn bản trên chất xám.
Hậu quả của nạn ăn uống không đủ sinh tố trên thể xác, ai cũng thấy trước mắt. Ngày xưa, người ta nghĩ người Việt nhỏ con vì cái tạng người như vậy, sinh ra để trở thành người tý hon, nhỏ xíu, gầy đét. Thực ra, cái tội chính là thiếu ăn. Hay chỉ ăn cho đầy bụng. Những trẻ em gốc Việt sinh ra hay lớn lên ở những nước phát triển đã lớn như thổi, không thua gì trẻ em Tây Phương.

Khả năng đọc và hiểu
J.F Bouvet, trong tuần báo Le Point (27/07), nhắc tới kết quả những nghiên cứu từ gần một nửa thế kỷ, vừa đăng trên Nature, đặc san Y khoa uy tín nhất (1), cho thấy vấn đề dinh dưỡng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển khả năng của trí não.
Tại Guatelama, Nam Mỹ, một nhóm nghiên cứu cung cấp thức ăn bổ dưỡng cho nông dân trong nhiều năm, đã chứng minh giả thuyết nếu cải thiện dinh dưỡng, sẽ cải thiện sự tăng trưởng cơ thể. Kết quả cũng cho thấy những trẻ em được được ăn uống đầy đủ hơn đã đạt được kết quả tốt hơn trong những tests về khả năng đọc và hiểu những gì đã đọc.
Tất cả những nghiên cứu tại Ba Tây, Jamaïque, Phi Luật Tân, Zimbabwe đều đi tới kết luận: có sự liên hệ giữa dinh dưỡng và kết quả ở học đường. Foundation Bill § Melinda Gates làm một nghiên cứu IRM (chụp hình não) tại một khu nghèo ở Bangladesh, nơi 40% trẻ em 2 tuổi ở dưới mức tăng trưởng bình thường. Bộ óc của trẻ sơ sinh (2 tới 3 tháng) thiếu dinh dưỡng, có khối lượng chất xám nhỏ hơn bình thường.
Không phải chỉ có vấn đề dinh dưỡng, môi trường xã hội, gia đình cũng là một yếu tố quan trọng. Charles Nelson (Boston) nghiên cứu bộ óc của trẻ em trong một nhà mồ côi ở Roumanie. Thiếu tình thương, sống lẻ loi, không được chăm sóc, hỏi han, tiếp xúc với người khác, bộ óc của các trẻ em từ 8 tuổi thiếu chất xám (matière grise) và chất trắng (substance blanche) tại những vùng não điều hành khả năng nói và tập trung, chú ý.

Thời đại của chất xám
Bouvet gọi sự nghèo đói là kẻ thù của bộ óc.
Như đã nói, thời đại này là thời đại của chất xám. Những dân tộc đầu tư vào chất xám, vào sự thông minh, đã và sẽ lãnh đạo thế giới. Những dân tộc chỉ trông vào bắp thịt và mồ hôi để kiếm ăn sẽ chỉ làm thuê, gánh mướn, nếu không muốn nói là nô lệ. Nô lệ về kinh tế, nô lệ về kỹ thuật, nô lệ văn hóa. Tóm lại, nô lệ.
Đọc bài báo của Nature, người ta không khỏi rùng mình nghĩ tới bộ óc của giới trẻ ở VN. Nhiều nghiên cứu quốc tế trước đây cho thấy tệ nạn thiếu dinh dưỡng cực kỳ nghiêm trọng ở VN.
Người ta phải chờ đợi một lớp trẻ có bộ óc bất bình thường, thiếu khả năng tập trung, suy nghĩ, học hỏi. Trẻ em VN không những thiếu dinh dưỡng, khi lớn lên còn được tự do hút sách, rượu chè là những độc được, theo các tổ chức y tế quốc tế.
Ở VN, mọi tự do đều bị hạn chế tối đa, trừ tự do hủy hoại thân thể. Ăn nói, viết lách, hành động không đúng chính sách của đảng cầm quyền, dù chỉ để giúp dân, giúp nước, dễ vào tù, nhưng tiêu thụ độc dược để tàn phá cơ thể và trí não thì hoàn toàn tự do.
Tại nhiều nước, vị thành niên không có quyền mua thuốc lá, mua hay uống rượu. Cấm hút thuốc ở tất cả những nơi công cộng, kể cả tiệm ăn, quán cả phê. Hút thuốc trong xe riêng cũng bị phạt nặng nếu trong xe có trẻ nhỏ. Trên mỗi bao thuốc, bắt buộc phải in hình bệnh tật hậu quả của thuốc lá: ung thư cuống họng, ung thư phổi v.v… Tại hầu hết các nước trên thế giới, giảm bớt số người hút thuốc là một ưu tiên quốc gia. Ở VN, hút thả cửa!

Tai hại của rượu
VN là một trong những nước tiêu thụ bia và rượu mạnh nhiều nhất, tính trên đầu người. Thanh thiếu niên VN hãnh diện vì uống nhiều rượu, dấu hiệu của người hùng, của đàn ông, của… nghệ sĩ. Không biết rằng rượu, nếu lạm dụng, được coi là chất độc ngang với ma túy. Rượu càng mạnh, uống càng nhiều, sự tàn phá càng dữ.
Ở VN, người ta uống rượu mạnh như nước lã trong bữa cơm, trong khi rượu mạnh chỉ để uống, một ly nhỏ, cho tiêu cơm hay thú vị ngoài bữa cơm. Đó là một cái “mode” vừa quê mùa, vừa độc hại, chỉ thấy ở bên Tầu và VN.
Rượu (bất cứ dưới hình nào: rượu mạnh, rượu đế, bia, rượu đỏ…), nếu lạm dụng, tàn phá cơ thể: gan, ruột, dạ dầy, lá lách… Không một bộ phận nào tránh khỏi sức tàn phá của rượu, vì rượu tan trong máu, và máu đi tới và nuôi dưỡng tất cả các bộ phận của thân thể. Nhưng trước khi tàn phá gan, lá lách… , rượu tàn phá bộ óc, cơ quan mềm yếu (vulnérable) nhất.
Những nghiên cứu mới đây cho thấy rượu (bất cứ rượu gì, kể cả la de), hủy hoại myelin (myéline) là vỏ bọc dây thần kinh. Dây thần kinh bị tổn hại, óc không chỉ huy được cơ thể nữa, tới một giai đoạn người nghiện rượu không nói nổi một hai câu rành mạch, mất thăng bằng, đi ngả nghiêng, mất ngủ, bị bệnh dépression. Bộ óc không hoạt động bình thường nữa, người nghiện không kiểm soát được hành vi của mình, bạo hành, đánh vợ, đánh con, bỏ bê công việc. Khi hết bị rượu hành, người nghiện hối hận, xin lỗi vợ con, để khi rượu vào, lại tiếp tục trò cũ, càng ngày càng nặng hơn, nhiều khi đi tới án mạng, hay tự sát.
Rượu không phải chỉ tai hại cho cá nhân, còn là một đại họa cho xã hội: tội ác, tai nạn lao động, tai nạn xe cộ… Và tai họa cho thế hệ sau: con cái của người nghiện có bộ óc bất bình thường, chậm hiểu, thất bại ở học đường và đa số trở thành nghiện ngập như bố mẹ.
Nếu hỏi thanh thiếu niên họ có vấn đề rượu hay không, hầu hết trả lời không.“Tôi uống bình thường, như mọi người.” Thế nào là lạm dụng? WHO (World Health Organization, Tổ Chức Y Tế Liên Hiệp Quốc) định nghĩa: lạm dụng khi uống quá 3 ly một ngày cho đàn ông, 2 ly cho đàn bà. Có sự khác biệt bởi vì cơ thể đàn ông chuyển hóa (métaboliser) rượu dễ dàng hơn, đàn ông lớn con, ít mỡ hơn, nghĩa là nhiều máu hơn, tỷ lệ rượu trong máu do đó thấp hơn.
Khi nói 2 hay 3 ly, không phải ly cối, to tổ bố, nhưng là những ly nhỏ xíu dùng trong các tiệm rượu, các quán café ở các nước Tây Phương. Bất cứ rượu loại gì trong một ly cũng có khoảng 10 gramme rượu nguyên chất (ly rượu mạnh, whisky, vodka nhỏ hơn ly bia, nhưng có khả năng độc hại ngang nhau).

Thực phẩm Trung Cộng
Ở VN, còn phải thêm một cái đại họa khác: những thức ăn độc hại vì hóa chất. Đa số nhập cảng từ Trung Cộng. Thịt cá, rau cỏ, đồ hộp “ma dzê in China” đều là những độc dược, nếu không giết người ngay, sẽ đưa tới ung thư, hay hàng chục thứ bệnh trong những năm tới.
Ở các nước Tây Phương, người ta tịch thu thường xuyên thức ăn độc hại của Tầu, hay ra thông cáo báo động, mặc dù đã có những tiêu chuẩn khắt khe khi nhập cảng thực phẩm, đặc biệt là thực phẩm Trung Cộng. Hàng tấn thực phẩm Tầu bị hủy hoại mỗi ngày vì không đủ tiêu chuẩn vệ sinh dinh dưỡng. Ở VN, ăn uống thực phẩm tẩm thuốc độc cũng là một quyền tự do, được nhà nước triệt để tôn trọng.
Đã tới lúc coi việc tẩy chay hàng hóa Trung Cộng, đặc biệt là thực phẩm, là một bổn phận công dân.
Thực phẩm thiếu dinh dưỡng, đầy hóa chất độc hại, rượu chè, ma túy, thuốc lá, môi trường ô nhiễm, xã hội bạo hành, đó là môi trường sống của tuổi trẻ VN. Chưa nói tới một nền y tế tồi tệ, thối nát, bất nhân. Không cần phải là khoa học gia, giáo sư y khoa cũng tưởng tượng được bộ óc của tuổi trẻ VN, tương lai của đất nước. Nếu đất nước còn có một tương lai.
Ngày nay, người ta không biết ở VN có bao nhiêu người bị ung thư, bao nhiêu người nghiện, bao nhiêu người có óc não bất bình thường, nhưng người ta biết rõ tên tuổi những người viết báo, làm thơ, viết văn, soạn nhạc không đúng đường lối của Đảng, của các đỉnh cao trí tuệ đã vạch sẵn.

Một nhà tù không tường
Chính quyền VN không có một chính sách ngắn hay dài hạn, để cứu cả một thế hệ tuổi trẻ, sau khi đã đốt cháy thế hệ trước trong chiến tranh. Có thể vì thiển cận, hay ngu dốt. Nhưng trước hết vì tính toán. Không những họ không làm gì, nhưng họ còn khuyến khích những tệ trạng đưa tới một xã hội bệnh hoạn, một dân tộc bạc nhược.
Thứ nhất, bởi vì rượu và thuốc lá là những nguồn lợi thuế má khổng lồ, huyết mạch của một quốc gia phá sản, nợ nần chồng chất, của một giới lãnh đạo chỉ có một mục tiêu duy nhất là làm giàu.
Thứ hai: Cho phép hàng hóa Tầu tràn ngập thị trường là một cách làm vui lòng đàn anh Trung Cộng cũng là một cơ hội kiếm chác, vì thương gia Tầu biết chi, biết chỗ chi. Và biết kín đáo khi đút lót.
Thứ ba, bởi vì chế độ độc tài xây dựng trên sự ngu dốt và tồn tại trong một xã hội bạc nhược. Cho thả cửa hút sách, nhậu nhẹt để người dân có ảo tưởng sống trong một xã hội tự do.

Aldoux Huxley viết: nhà nước độc tài nào cũng muốn biến xã hội thành “một nhà tù không tường, trong đó tù nhân không nghĩ đến chuyện vượt ngục, không nghĩ tới việc lật đổ bạo quyền. Một hệ thống nô lệ, trong đó nhờ tự do tiêu thụ và giải trí, người nô lệ yêu cả thân phận nô lệ của mình”. (2 )

(Paris, 8/2017)
Từ Thức

 https://www.facebook.com/tu.thuc

 

Đăng ngày 14 tháng 09.2017