• Trang đầu
  • Lời dẫn nhập
  • Vài nét về trường ĐHSP Sàigòn
  • Cựu Giáo sư ĐHSP Sàigòn
  • Cựu Sinh viên ĐHSP Sàigòn
    • Danh sách và tài liệu
    • Tin tức & Sinh hoạt
    • Viết về trường xưa
    • Một thời dạy học
    • Nhắn tin & Tìm bạn
  • Thời sự khắp nơi
  • Biên khảo
  • Thời điểm - Phiếm luận
  • Thơ
  • Văn
  • Nhạc
  • Chuyện quê nhà
  • Thư Việt Nam
  • Giới thiệu Sách & Tranh ảnh
  • Y tế & Khoa học
    • Y tế
    • Vườn dược thảo
Video - Thảo luận

ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY

Giáo sư Phạm Cao Dương

Bài đã đăng
  • tháng 3-2012
  • tháng 2-2012
  • tháng 1-2012
  • tháng 12-2011
  • tháng 11-2011
  • tháng 10-2011
  • tháng 9-2011
  • tháng 8-2011
  • tháng 7-2011
  • tháng 6-2011
Weblinks
  • Blog & Website cựu SV & GS ĐHSPSG
  • Các hội đoàn bạn
  • Báo chí
  • Radio Việt Ngữ
  • Làn sóng nhạc

Mọi thư từ, bài vở ... xin gởi về:

daihocsuphamsaigon@gmail.com



PostHeaderIcon Phiếm luận về Bỉ sắc tư phong

Écrit par Võ Hiếu Nghĩa
Mục lục
Phiếm luận về Bỉ sắc tư phong
Phần II
Nguyên bài
Page 1 sur 2

Phiếm luận về Bỉ sắc tư phong

Võ Hiếu Nghĩa

 

 

Bỉ : cái kia
Sắc : ít
Tư : cái này
Phong : nhiều

Bỉ sắc tư phong có nghĩa là khi cái kia kém-ít, thì cái này hơn-nhiều, được cái nọ thì hỏng cái kia, không ai được hoàn toàn. Trong câu thơ thứ 5 và 6 của Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết :

Lạ gì Bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen

Trời xanh để đối với má hồng, do vậy má hồng ở đây không chỉ nói riêng về đàn bà, mà nói chung là người có một điều gì đó nổi bật như là TÀI, SẮC.... Ông Trời sẽ đi theo đánh ghen và đày đọa người có tài có sắc.

Phần I :
Lạ gì Bỉ sắc tư phong

* CÁI NÀY ÍT, CÁI KIA NHIỀU

Hiểu rộng ra, trong một đời người, trong một xã hội, hay trong một dân tộc, không có gì là tuyệt đối.

* Cặp phạm trù CỦA-CON

Trong dân gian ta có câu : Được hào của, mất hào con, hay ngược lại, tức là có được nhiều tiền bạc của cải, thì lại có ít con cái hay ngược lại. Ở Việt Nam, một gia đình chỉ được quyền có hai con mà thôi. Tuy nhiên con cái ở Việt Nam phần nhiều có hiếu thảo, thường ở chung với cha mẹ, sống đến lớn khôn, một số dù đã lập gia đình cũng vẫn sống chung với cha mẹ, họ được rảnh tay để phát triển sự nghiệp và con cháu thường được ông bà chăm sóc dạy dỗ. Khác với bên Mỹ, phần lớn con cái thích tự lập, sớm tách biệt với gia đình và cha mẹ. Hơn 90% cha mẹ sẽ chết già và cô độc trong các khu vực dành riêng cho người già cả, hay trong các trại dưỡng lảo buồn bã.

* Cặp phạm trù THÔNG MINH & TRÍ NHỚ

Thuở đi học cũng như lúc đi dạy, chúng ta thường đã gặp phải nhóm người có trí thông minh nhiều và trí nhớ ít, thì hướng dẫn họ theo học khoa Triết, khoa Toán..., còn nếu trí nhớ nhiều và trí thông minh kém thì hướng dẫn họ theo học khoa Y, khoa dược (không tuyệt đối như vậy). Người giỏi văn thì kém toán....Tất nhiên nếu một người vừa rất thông minh vừa có trí nhớ nhiều, thì đó là bậc thiên tài rồi.

* Cặp phạm trù TÀI-ĐỨC

Trước khi chúng ta bàn về hai chữ Tài-Đức chúng ta phải thống nhất trước với nhau về khái niệm của nó, mỗi người hiểu một nghĩa thì khó có thể có kết quả cuối cùng được.Theo từ điển tiếng Việt:

NĂNG LỰC:
là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo - tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn - một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính cách của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân). Năng lực cao đạt được những thành tựu hoàn thiện, xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội, gọi là tài năng. Tài năng đặc biệt làm nên kì tích trong hoạt động sáng tạo, vượt lên trên mức bình thường được gọi là thiên tài.

TÀI NĂNG:
là sự kết hợp hoàn thiện nhất các năng lực nhất định đối với một hoạt động nhất định, giúp con người đạt được những thành tựu xuất sắc, mới mẻ, có ý nghĩa xã hội. Tài năng biểu thị chất lượng cao của năng lực, có thể biểu hiện trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, thông qua đào tạo chu đáo và luyện tập công phu, hoạt động thực tiễn phong phú, phát triển tối đa các tố chất tương ứng.

THIÊN TÀI:
là tài năng sáng tạo ở trình độ cao nhất; đồng thời khái niệm này còn chỉ người có tài năng bẩm sinh. Một tác phẩm thiên tài là một tác phẩm có tính chất hết sức mới mẻ và độc đáo, có ý nghĩa lịch sử đặc biệt đối với sự phát triển của xã hội loài người. Do đó, nó để lại những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc. Một người thiên tài là một người đã có được những tác phẩm sáng tạo như thế, là một con người có những khả năng xuất chúng, có những cố gắng rất lớn, nhạy cảm với những vấn đề nóng bỏng của thời đại, của xã hội, biết thể hiện và thoả mãn được những nhu cầu quan trọng nhất của xã hội.

Tài: Tài năng làm được việc. Đức: đạo đức, phước đức. (theo Cao Đài Tự điển)

Tài bất thắng đức: Tài năng không thể thắng nổi phước đức. Khi đã hưởng hết phước đức rồi thì dù có tài giỏi cách mấy cũng không thể cứu vãn được sự thất bại và suy tàn.

Đức thắng tài vi quân tử: người có đạo đức hơn tài năng thì làm người quân tử.

Tài thắng đức vi tiểu nhân: người có tài năng hơn đạo đức thì làm kẻ tiểu nhân.

Luận về Tài Đức, trong CĐTĐ có bài thi sau đây:

Tài lấn Đức, Tài mau diệt tận,
Đức đồng Tài, Tài phấn khởi thêm.
Mênh mông bể khổ con thuyền,
Đạo sơ Đức kém, ngửa nghiêng sóng trần.
Ỷ tài sức, cậy thân cậy thế,
Tài càng nhiều càng lụy đến thân.
Tài kia Tai nọ luôn vần,
Đức Tài trau luyện đồng cân mới mầu.
Trăm năm một cuộc bể dâu!

* Cặp phạm trù LÝ TRÍ-TÌNH CẢM

Trong cuộc sống, bạn sẽ có rất nhiều cơ hội để chọn lựa cách sống bằng tình cảm hay lý trí. Bạn hành động bắt ngưồn từ động cơ xuất phát từ trái tim hay sự tính toán khôn ngoan của đầu óc?

Trong thực tế, Trái tim- lĩnh vực ngự trị của lòng khoan dung, độ lượng và tràn đầy tình cảm- sẽ khiến bạn nhận ra rằng, không thể nào có được cảm giác dễ chịu khi làm tổn thương người khác.

Cùng với một việc làm, nhưng nếu bạn dùng trái tim để điều khiển- mục đích là cảm thông, xây dựng giúp đỡ nhau, rất có thể bạn sẽ khiến người khác cảm thấy vui vẻ, thoải mái hơn, thậm chí họ còn chia sẻ những suy tư, niềm hạnh phúc của mình cùng bạn. Lúc này chính bạn cũng đón nhận được những cảm xúc lạc quan đó từ người khác.

Do đó, khi xử sự , tốt nhất hãy dùng sự sáng suốt của lý trí để chống lại những thái độ xấu, hành vi kiêu ngạo để thực hiện hành vi nhân hậu. Bạn sẽ tìm thấy sự bình an ở nội tâm.

Cuộc sống đầy rẫy phức tạp, lối rẽ, đòi hỏi chúng ta có lý trí để phán đoán, phân tích, dự báo những điều sẽ diễn ra để chuẩn bị tinh thần đón nhận nó. Nhưng nếu bạn bỏ qua yếu tố Tình cảm- đồng nghĩa với việc bạn biến tâm hồn mình thành hoang mạc, khô cằn và sỏi đá.

Con người thoát khỏi lớp động vật thuần tuý nhờ vào sự dung hoà giữa 2 mặt lý trí và tình cảm- Con vật có tình cảm nhưng thiếu lý trí, chúng có thể gắn bó nhau nhưng sẵn sàng chống trả hoặc cấu xé nhau khi giành lấy con mồi hoặc có khi ăn thịt cả đồng loại của mình để thoả mãn bản năng tồn tại- và từ đây chúng ta có thễ hiểu rằng: Con người dùng lý trí để xây dựng tình cảm và lấy tình cảm làm nền tảng cho mọi hành động của lý trí. Tuy nhiên hai mặt này cần được cân bằng để tránh khỏi những sai lầm hoặc những hậu quả đáng tiếc mà chúng ta không lường hết được

Bạn thân mến! Không ai có thể biết chính xác tương lai của mình sẽ như thế nào, nhưng ai cũng biết yêu thương và được yêu thương là hạnh phúc lớn lao. Vậy hãy dùng lý trí để biết mình nên làm gì để mang lại tình yêu thương cho người khác.

Chúc các bạn có câu trả lời hay nhất cho bản thân mình và tìm thấy niềm vui và hạnh phúc.
(từ Bài học thành công)
(Bạn có thể xem thêm các truyện Romeo và Juliet, Le Cid... trong bài “Trã thù hay Tha thứ” của tác giả VH Nghĩa).

* Cặp phạm trù THÔNG MINH-CẢM XÚC

Chỉ số THÔNG MINH-CẢM XÚC (IQ – EQ)

IQ LÀ GÌ?

IQ là ký hiệu lấy hai chữ cái đầu của từ tiếng Anh là “Intelligence Quotient”, thường dịch là thương số trí tuệ hay còn gọi là chỉ số thông minh. Chỉ số này của mỗi người nói lên năng lực trí tuệ của người đó.

Để có phương pháp đo IQ một cách khoa học, ta cần tìm hiểu định nghĩa thuật ngữ “trí thông minh”. Bởi đây là một khái niệm quan trọng làm cơ sở lý luận cho việc đo lường. Năm 1921, một tạp chí nghiên cứu hỏi 14 nhà tâm lý học và giáo dục học nổi tiếng về định nghĩa trí thông minh. Kết quả nhận được 14 định nghĩa, trong số đó các chuyên gia nhấn mạnh đến “khả năng học tập từ kinh nghiệm” và “khả năng đáp ứng với môi trường”. Năm 1986, những nhà nghiên cứu lập lại câu hỏi định nghĩa trí thông minh với 25 chuyên gia.

Kết quả thu được là nhiều định nghĩa khác nhau, liên quan đến:

(1) khả năng đáp ứng tổng quát với một vấn đề mới trong cuộc sống;
(2) năng lực để tham gia vào việc tư duy trừu tượng, sự điều chỉnh đối với môi trường;
(3) khả năng về tri thức và sở hữu tri thức;
(4) khả năng tổng quát về tính độc lập, tính sáng tạo và hiệu quả trong khi suy nghĩ;
(5) khả năng để thu nhận được khả năng;
(6) sự nắm bắt các mối quan hệ có liên quan;
(7) khả năng để đoán xét, để hiểu được ý nghĩa và để lập luận;
(8) suy diễn các mối quan hệ;
(9) năng lực nhận thức chung, bẩm sinh.

- Nhà tâm lý học người Mỹ, L.L.Thurstone (1887 – 1955) đưa ra phương pháp phân tích đa nhân tố (1947). Ông cho rằng trí thông minh gồm 7 nhân tố:
V = sự lĩnh hội ngôn từ (verbal comprehension).
W = hoạt bát ngôn ngữ (word fluency)
N = khả năng vận dụng tài liệu chữ số (Number).
S = năng lực không gian (space)
M = trí nhớ (memory).
P = tri giác (perceptual).
R = khả năng suy luận (reasoning).

Công thức tính IQ :

Wechsler trong các trắc nghiệm trí tuệ dùng cho trẻ em và cho người lớn đã sử dụng điểm IQ chuyển hóa. Đây là loại điểm IQ chuyển đổi từ điểm số bài trắc nghiệm của một người sang loại thang đo tiêu chuẩn, dựa trên lý thuyết cho rằng những điểm số trắc nghiệm của một dân số người được phân bố bình thường, và thang này có
điểm trung bình = 100;
độ lệch tiêu chuẩn = 15.
Công thức tính:
IQ = 100 + 15 Z
Z là điểm biến đổi từ điểm số bài trắc nghiệm theo công thức Z = (X - µ)/ơ , trong đó µ và σ lần lượt là điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn các bài làm của nhóm đông người chọn làm đại diện cho dân số.

Thí dụ: Khảo sát bằng test RAVEN (60 câu hỏi) trên một nhóm khoảng 2000 học sinh đại diện cho các học sinh lớp 8 thu được điểm trung bình µ = 35,5 độ lệch tiêu chuẩn σ = 11,4. Học sinh Tuấn, lớp 8 làm bài test này đạt 48 điểm. Vậy IQ của Tuấn là bao nhiêu?

Giải: Đổi điểm của Tuấn ra Z = (48 – 35.5)/11.4 = 1.096
Suy ra IQ = 100 + 15 x 1.096 = 116

EQ, SQ, CQ - những chỉ số của người thành đạt

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Trí thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient - EQ).

bỉ sắc tư phong

Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc (Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient - EQ). Thực tế cho thấy, cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh, người ta đã chứng minh được lý trí, mà đại diện là trí thông minh, không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần neocortex (phụ trách suy luận trên não) là nhạc trưởng, nó chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa.

EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những "thiên tài đơn độc" (mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng). Sau đó, nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.

Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội.

Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất.

Chỉ số xúc cảm - EQ

Yếu tố quan trọng để có được thành công không phải là những kiến thức chuyên môn bạn được trang bị ở trường học, cũng không phải là chỉ số thông minh IQ, thậm chí không phải bí quyết kinh doanh hay nhiều năm kinh nghiệm. Yếu tố quan trọng nhất để đạt được thành công trong sự nghiệp đó là Trí tuệ xúc cảm - EQ.

Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra lý thuyết khá toàn diện về Trí tuệ xúc cảm (Emotional Quotient – EQ hay Emotional Intelligence - EI). Salovery và Mayer đã định nghĩa năng lực cảm xúc ở khía cạnh có thể kiểm soát và điều chỉnh cảm xúc của bản thân, của người khác và sử dụng những cảm xúc đó để định hướng suy nghĩ, hành động. Năm 1995, Daniel Goleman, nhà tâm lý học người Mỹ đã xác định cụ thể và hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên “Emotional Intelligence”. Theo đó trí tuệ cảm xúc bao gồm 5 thành tố sau:

1/ Hiểu rõ chính mình:

Thành tố này nhằm đánh giá khả năng đọc được cảm xúc của mình, biết đâu là điểm mạnh để phát huy, đâu là điểm yếu cần khắc phục, đánh giá mức độ tự tin của mỗi người. Hiểu được những điều đang được cảm nhận ở hiện tại để vận dụng chúng, tạo thành những phản xạ vô thức khi ra quyết định hay hành động. Đây là thành tố quan trọng để đánh giá trí tuệ xúc cảm.

2/ Kiểm soát bản thân:

Thành tố này đánh giá khả năng làm chủ và điều khiển cảm xúc, khả năng tạo ra và duy trì những cảm xúc tích cực. Nó còn đánh giá mức độ kiên trì, tạm ngưng việc tự thỏa mãn để theo đuổi mục tiêu. Đánh giá khả năng hồi phục sau khi bị những khủng hoảng tình cảm. Khả năng đánh giá mức độ chín chắn, khả năng thích nghi nhanh với những thay đổi của hoàn cảnh.

3/ Động cơ thúc đẩy:

Thành tố này đánh giá khả năng tạo ra những đam mê trong công việc, cuộc sống. Đam mê được tạo ra thông qua việc hiểu ý nghĩa của cuộc sống, có đích sống rõ ràng giúp cho có được sự tận tâm, kiên trì, sáng tạo để vượt qua thử thách, vươn tới thành công.

4/ Khả năng thấu cảm:

Thành tố này đánh giá khả năng hiểu được tâm trạng, ước muốn, nhu cầu và quan điểm của mọi người. Biết lắng nghe, luôn chân thành, cởi mở. Biết cảm thông và tôn trọng cá tính của người khác. Điều đó giúp cho có được sự hòa hợp với những người xung quanh, tạo ra những nhóm làm việc hiệu quả. Đây cũng là một yếu tố quan trọng của trí tuệ xúc cảm.

5/ Kỹ năng xã hội:

Thành tố này đánh giá khả năng giao tiếp, khả năng truyền cảm hứng và gây ảnh hưởng đến người khác. Phát hiện khả năng và triển vọng của mọi người để giúp cùng phát triển. Điều đó giúp cho việc duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội.

EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai.

Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội.

Sau đây là những khác biệt cơ bản giữa IQ và EQ

Chỉ số thông minh - IQ Chỉ số xúc cảm - EQ
Khả năng nhận thức Khả năng cảm nhận
Ít thay đổi theo thời gian Có thể làm tăng thêm cùng với thời gian
Chỉ ở một phần của bộ não Ở nhiều khu vực trên bộ não
Cho biết những thành công trong quá trình
sử dụng nhận thức của mình
Tiên đoán toàn bộ thành công trong cuộc đời
Chi phối khả năng thu nhận kiến thức của mình Chi phối hành vi của mình và của người khác
Có sự ảnh hưởng nhỏ lên người khác Có thể có ảnh hưởng lớn hơn lên những người khác
Thích hợp cho việc quản lý chuyên môn Thích hợp cho việc quản lý mối quan hệ

Th.s Hoàng Xuân Sơn

SQ (Social Quotient) - Thông minh xã hội

Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội (Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ). Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể... Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội.

CQ (Creative Quotient) - "cái vỗ nhẹ" vào vùng não phải

Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo (Creative Intelligence và tương ứng CQ). Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại.

Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản: "Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng". Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể "rèn luyện" được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái "loé sáng" trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra "cái vỗ nhẹ" đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên 'Tư duy sáng tạo" nhằm mục đích này.

PC (Passion Quotient) - Đam mê quyền lực

Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số Đam mê (Passion Quotient, viết tắt PQ) và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp (Career Quotient CQ). Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari - nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ - cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là: yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình.

Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất "ham địa vị" như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực.

Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức (Moral Quotient, MQ). Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ "có đức có tài" cũng đi liền với nhau.

(Theo Khoa học và Đời sống)

EQ so sánh với IQ

bỉ sắc tư phong

EQ là thước đo độ thông minh về cảm xúc, hoặc khả năng kết hợp việc sử dụng cả cảm xúc lẫn các kỹ năng xuất phát từ kinh nghiệm trong cuộc sống. Thông minh cảm xúc gồm có nhưng không chỉ giới hạn ở sự thấu cảm, trực giác, sức sáng tạo, sự năng động, kiên cường, khả năng chiến đấu, cân bằng áp lực, khả năng lãnh đạo, tính chính trực, sự xác thực, khả năng suy nghĩ và liên kết con người.IQ là một chỉ số được sử dụng để diễn tả sự thông minh biểu hiện ra bên ngoài một cách tương đối của một cá nhân. IQ là chỉ số đo năng lực nhận thức, như khả năng học và hiểu hoặc xử lý tình huống; khả năng áp dụng kiến thức vào môi trường thực tế hoặc suy nghĩ phản biện (như được đo trong các bài kiểm tra); sự nhạy bén của đầu óc; kỹ năng logic và phân tích.

So sánh

- Con người rèn luyện được EQ thông qua cuộc sống; còn IQ học được ở sách vở và trường lớp

- EQ: Thuyết phục người khác bằng lí do và cảm xúc; còn IQ chứng minh bằng số liệu và thực tế.

- EQ: Sử dụng cảm xúc và kinh nghiệm để thực hiện chức năng một cách hiệu quả; còn IQ: Chỉ dùng kỹ năng nhận thức.

Ví dụ

Samuel có IQ rất cao. Anh ấy có khả năng lập luận, rất có khả năng phân tích và logic và đặt một mục tiêu "thép" vào công việc. Anh ấy học những thứ mới rất nhanh. Tuy nhiên, anh ta lại không để ý đến việc mình đang nghĩ gì và người khác đang nghĩ gì. Nếu mọi thứ không được như anh ta mong muốn, anh ta sẽ trở nên nóng nảy và chỉ trích người khác. Anh ta không thể gần gũi với những người không thông minh bằng mình và kém đồng cảm. Tất cả những điều này làm cản trở anh ta làm việc hiệu quả trong nhóm mặc dù chỉ số IQ rất cao.

Jose có EQ rất cao. Anh ấy hoà thuận với mọi người, và kiểm soát cảm xúc của mình cũng rất tốt. Điều này giúp anh ta làm việc hiệu quả, mặc dù trong công ty một số người có IQ cao hơn Jose. Jose có khả năng hiểu những thành phần của cảm xúc trong giao tiếp, và sử dụng cả khả năng kinh nghiệm lẫn sự hiểu biết về cảm xúc của mình. Anh ta có thể ảnh hưởng và động viên mọi người bởi vì anh ta hiểu điều gì làm mọi người quan tâm, và là một nhà ngoại giao xuất sắc. Anh ấy rất linh hoạt, sáng tạo khi phải đối mặt với thử thách, và không bao giờ nản lòng khi phải đối mặt với những thất bại trước mắt. Anh ấy rất được yêu mến và kính trọng.

Điểm mấu chốt

EQ quyết định nhiều hơn tới những thành công và hạnh phúc trong cuộc sống của bạn hơn là IQ và điều quan trọng là EQ có thể học được.

Những sự phân biệt khác

• Biết như thế nào và tại sao; so với Biết cái gì.
• Bết làm thế nào để động viên mọi người; so với Đối xử với mọi người như thể là họ đã không chịu làm theo cách mà nhẽ ra họ nên làm.
• Chế ngự cảm xúc và sử dụng cảm xúc để đạt được hiệu quả tốt; so với Để cho cảm xúc chế ngự bởi vì bạn không hiểu chúng hoặc không biết làm thế nào để "làm việc" với chúng.

Lợi ích

Khi bạn phân biệt được sự khác nhau giữa EQ và IQ bạn có thể biết cách để tăng cường EQ của mình. EQ có thể học được nhưng lại thường bị xao nhãng trong nền giáo dục, cả ở nhà và ở trường.

Và bây giờ bạn hãy quan sát những những người xung quanh mình xem ai có EQ cao nhất và thử xem có phải họ đang rất thành công hay không!. Nếu đúng thì những kết luận này thực sự là đáng tin cậy.

 

 


trang trước - Xem tiếp >>

 

Copyright © 2009 ---.
All Rights Reserved.