Mọi thư từ, bài vở ... xin gởi về:
Vài nét về cựu Giáo sư ĐHSP Sàigòn
Giáo sư Bùi Phượng Chì
Cụ Bùi Phượng Chì là vị Giám Đốc đầu tiên của ban Khoa học thuộc Đại học Sư phạm Sàigòn. Cụ là 1 trong 3 người có công lập ra trường Đại học Sư phạm. Hai Vị kia là cụ Trương Công Cừu (Khoa Trưởng) và cụ Phan Thế Roanh (Giám Đốc ban Văn chương).
Cụ Bùi Phượng Chì sinh năm 1909 tại Bắc Ninh. Tốt nghiệp Cử nhân Lý Hóa tại Đại học Montpellier (Pháp) năm 1935.
Cụ trở về Việt Nam cuối năm 1935 và dạy học tại Trường Bưởi.
Từ năm 1940 đến năm 1945, Cụ dạy tại trường Đại học Khoa học Hà Nội (Phòng Thí nghiệm).
Sau năm 1945, vì không muốn làm việc dưới quyền người Pháp, cụ đi dạy tại trường Tư thục Dũng Lạc. Đến năm 1951 Cụ dạy tại trường Nguyễn Trãi thời chính phủ Quốc Gia.
Năm 1954, Cụ di cư vào Sàigòn và dạy học tại trường Chu Văn An.
Năm 1955 Cụ làm Thanh tra Học chánh.
Từ 1956 đến 1958, Cụ làm Tổng Giám đốc Học vụ Trung học.
Sau đó Cụ làm Giám đốc ban Khoa học tại trường Đại học Sư phạm Sàigòn từ 1958 đến 1967.
Cụ Bùi Phượng Chì về hưu trí năm 1967 và năm 2000 Cụ qua đời tại Hoa kỳ.
Giáo Sư Giản Chi - Nguyễn Hữu Văn
1- Tiểu sử:
Thầy Giản Chi sinh năm Giáp Thìn (1904), quê làng Yên Quyết (làng Cót), phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc quận Cầu Giấy, Hà Nội). Thuở nhỏ theo đòi Nho học; đến năm 14 tuổi đỗ khóa sinh, sau đó được vào học trường Bưởi.
Thầy tốt nghiệp trường Cao đẳng Công chính Hà Nội, sau khi tốt nghiệp được tuyển làm công chức ngành bưu điện tại Lai Châu, Sơn La, tỉnh Hải Dương. Thầy bắt đầu cộng tác với một số tờ báo tại Hà Nội.
Khi Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, thầy đưa gia đình lên miền thượng du tản cư, tạm lánh tại vùng Hoàng Lưu, sông Vàng, Thanh Oai.
Năm bốn mươi tuổi, thầy có hai câu thơ nói về quãng đời phiêu bạt của mình:
"Dòng đời khôn đổi làm sông rượu
Bừng giấc quan hà lại muốn say"
Từ 1940 thầy đã làm thơ đăng báo, nhưng mãi đến năm 1994 mới cho in thành tập "Tấc lòng". Thầy từng nói: "Duyên làm thơ của tôi bắt nguồn từ cảnh đẹp trên đường Cổ Ngư hồi còn đi học. Nó đeo đuổi tôi mãi đến lúc đầu đã bạc vẫn vương vấn mấy câu: Gió đông mơ dáng hoa đào/Trà Phương Bối đậm nhớ Sao Trên Rừng".Năm 1954, theo dòng người đi tìm tự do, thầy di cư vào Nam và cư trú tại Sàigòn. Tiếp tục làm công chức, dạy học tại Trường Đại học Sư Phạm Sàigòn, Đại học Văn khoa Sàigòn, Đại học Văn khoa Huế. Đại học Tổng hợp TPHCM (mấy năm đầu sau 30.4.1975).
Thầy viết nhiều sách về triết học và văn học cổ Trung Hoa. Thầy kết thân với người bạn tâm giao, cụ Nguyễn Hiến Lê, và cũng là người anh em bạn rễ của thầy. Cả hai vị cộng tác chặt chẽ, cùng viết và dịch nhiều quyển sách có giá trị như "Chiến quốc sách", "Sử ký Tư Mã Thiên", "Đại cương triết học Trung Quốc"...
Thầy là một lương sư tận tụy, một học giả uyên bác đã cống hiến rất nhiều cho nền học thuật nước nhà.
Cụ Nguyễn Hiến Lê có vài lời nhận xét về thầy Giản Chi như sau: "Ông Giản Chi là một nghệ sĩ (...) tính tình hào hoa phong nhã, thích hoa, rượu, nhạc. Thơ ông có giọng lãng mạn của thời đó, nhưng không sướt mướt mà hào hùng".
Sau 30 tháng 4 năm 1975, thầy vẫn ở lại Sàigòn, mặc dù ba người con của thầy khẩn khoản xin rước thầy ra nước ngoài định cư, nhưng thầy đã từ chối. Thầy vẫn tiếp tục ở lại trong nước, viết sách, làm thơ nhưng không còn nhiệt tình như thời gian trước nữa.
Đến 14 giờ 55 phút chiều 22 tháng 10 năm 2005, thầy tạ thế tại nhà riêng ở quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 102 tuổi. Ngày 26/10/2005, rất nhiều học trò cũ của thầy đến kính viếng thầy tại nhà tang lễ số 25 Lê Quý Đôn và chia buồn với các con của thầy vừa từ nước ngoài về quê báo hiếu.
2- Tác phẩm:
- Cô độc - dịch truyện Lỗ Tấn (1954)
- Cái đêm hôm ấy (dịch Somerset Maugham)
- Lỗ Tấn tuyển tập (1987).
- Tấc lòng (thơ 1993).
- Vương Duy thi tuyển (1992).
* Các tác phẩm soạn chung với Nguyễn Hiến Lê:
- Đại cương triết học Trung Quốc, thượng và hạ (1965).
- Chiến quốc sách (1967).
- Sử ký Tư Mã Thiên (1972).
- Tuân Tử (1974).
- Hàn Phi Tử (1975).

(Viết bởi Lâm Hữu Tài và các cựu SV ban Việt Hán, khóa 1966-1969)
Giáo sư Nguyễn Thị Cúc

Tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Sorbonne- Paris.
Bà đã là giáo sư tại trường Đại học Sư Phạm Sàigòn, trường Đại học Văn Khoa Sàigòn và Viện Đại học Đà lạt.
Trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975 bà đã cùng các con di tản sang Pháp.
Bà là Chuyên gia khảo cứu (recherche) của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học Pháp (CNRS) (1975-1993).
Hiện hưu trú tại Pháp cùng với phu quân là giáo sư Lâm Thanh Liêm.
Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân

Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân sinh tại Sàigòn. Định cư tại Hoa Kỳ (New York) từ năm 1975. Ông tốt nghiệp MS & MBA tại Pace University - New York và đã làm việc cho nhiều nhà bank và công ty ở Hoa Kỳ. Về hưu trí từ năm 2002.
Trước 1975, ông là giáo sư tại các trường: Võ Trường Toản (Sàigòn), Quốc gia Sư phạm Sàigòn, Đại học Sư phạm Sàigòn, Đại học Sư phạm Cần Thơ, Cao Đài, Hòa Hảo.
Ông đã dịch thuật và viết nhiều sách trước 1975 như: Các Vấn đề Giáo dục, Triết lý Giáo dục, Những Danh tác Chính trị, Lịch sử Chiến tranh lạnh...
Để hiểu rõ hơn về đời sống và các hoạt động của Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân, xin mời vào website sau đây: http://my.opera.com/Le Thanh Hoang Dan
Giáo Sư
Phạm Cao Dương

Ông đã tốt nghiệp các trường Đại học Sư phạm, Đại học Văn khoa Sàigòn vào đầu thập niên 60. Năm 1973 Ông sang Pháp du học và tốt nghiệp Tiến Sĩ ngành Sử tại đại học Paris. Ông từng giảng dạy tại các trường Đại học Sư Phạm Sàigòn, Đại học Văn Khoa Sàigòn và là giáo sư thỉnh giảng tại các đại học Đà Lạt, Huế, Cần Thơ, Vạn Hạnh và Cao Đài.
Tháng Tư năm 1975, giáo sư Phạm Cao Dương may mắn rời khỏi được đất nước trong những giờ phút cuối cùng của miền Nam. Đặt chân tới nước Mỹ ông có một thời gian ngắn gián đoạn nghề dậy học, nhưng bù vào đó ông đã cắp sách đến trường lại để hoàn tất những học vị cần thiết cho việc quay lại với nghề dạy học cũ của mình.
Sau đó,ông giảng dạy các môn lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt nam trong gần ba chục năm qua tại các trường UCI, UCLA, Cal State Long Beach, Santa Ana College…
Hiện nay tuy đã đến tuổi nghỉ hưu, nhưng giáo sư Phạm Cao Dương vẫn còn dạy một số lớp tại các trường đại học có đông sinh viên Việt Nam ở Nam Cali.
Ông là một nhà giáo tận tụy với nghề suốt hơn bốn chục năm trường. Đúng là ông sinh ra để đi học và đi dạy.
Giáo sư
Nguyễn Khắc Hoạch

Thầy Nguyễn Khắc Hoạch, sinh ngày 15-5-1921 tại huyện Đông Yên, tỉnh Hưng Yên, Việt Bắc. Trong quá trình hoạt động văn hóa nghệ thuật, thầy dùng nhiều bút hiệu như: Hữu Minh, Lân Hồ, Hoàng Tuấn, Trần Hồng Châu…
Thuở bút nghiên: Lúc thiếu thời, thầy học tại trường Trung Học Khải Định Huế (1936-1943), rồi học tại trường Đại học Luật Khoa Hànội cho đến năm 1945.
Sau năm 1945, thầy sang Pháp theo học trường Đại học Sorbonne Paris, đỗ Cử nhân Văn Chương năm 1950, đỗ Tiến sĩ Văn Chương Quốc Gia (Doctorat d’Etat) năm 1955.Đồng thời, thầy cũng tốt nghiệp Viện Cao Đẳng Quốc Tế thuộc Khoa Luật (Institut des Hautes Etudes Internationales de Droit) Paris, năm 1952; và tốt nghiệp Trung tâm Châu Âu thuộc Đại học Nancy (Centre d’Etudes Européennes Université de Nancy), 1957.
Thời hoạt động:
- Lãnh vực Giáo dục:
• Năm 1957 về nước, thầy làm giáo sư môn Văn chương Pháp và Văn chương Việt nam tại các trường Đại học Văn Khoa và Đại học Sư Phạm Sàigòn; Đại học Huế; Đại học Đàlạt và Học viện Quốc gia Hành Chánh.
• Được bầu làm Khoa Trưởng Đại học Văn khoa Sàigòn theo nguyên tắc Đại học tự trị lần đầu tiên trong lịch sử Đại Học Văn Khoa (1965-1969).
• Năm 1970, được mời sang Hoa kỳ làm Giáo sư thỉnh giảng về môn Văn chương, Văn hóa Việt Nam, và Văn chương Pháp tại Southern Illinois University (Carbondale, Illinois, USA). Thầy dạy học tại đây đến năm 1974 thì về nước.
• Khoảng năm 1990, thầy sang Hoa Kỳ định cư theo diện gia đình bảo lãnh, cư trú tại Quận Cam, California.
- Lãnh vực Văn hóa Nghệ thuật:Là nhà trí thức uyên bác được kết tinh từ nền tân học hiện đại lại uyên thâm cả nền cựu học, thầy đã đem cái sở học của mình tận tụy cống hiến cho sự nghiệp trồng người, và hết lòng chấn hưng nền học thuật nước nhà:
• Trước năm 1945, thầy đã viết cho các tạp chí Gió Mới và Tiền Phong (Hà nội).
• Sau thời gian du học và vinh qui năm 1957, thầy mang theo những tinh hoa của nền văn học Tây Phương về nước, truyền đạt đến những thế hệ trẻ Việt Nam đàn em và những thế hệ tiếp nối. Là nhà Tây học, nhưng thầy là người rất tôn trọng lễ nghĩa, và giữ lòng trung tín với tổ quốc cha ông, tích cực hoạt động trong lãnh vực văn hóa giáo dục.
• Ở quốc nội, thầy sáng lập tạp chí Thế Kỷ XX; cộng tác với Tạp chí Văn Hóa Nguyệt San của Bộ Giáo dục do GS Nguyễn Đình Hòa làm chủ bút; tạp chí Văn Hóa Á Châu của GS Nguyễn Đăng Thục.
• Khi định cư ở nước ngoài, thầy vẫn tiếp tục làm thơ, viết văn dưới bút hiệu là Trần Hồng Châu. Cộng tác với Văn, Văn Học và Thế kỷ XXI.
CÕI VỀ: Ngày 7-12-2003, thầy tạ thế, ra đi về cõi vĩnh hằng tại nơi thầy định cư (California USA), để lại lòng tiếc thương vô hạn cho tất cả thân quyến bằng hữu, các bậc thức giả và học trò, cả trong và ngoài nước.
Vinh Danh:
• Để tuyên dương những thành tích của thầy, năm 1968, Chính phủ VNCH đã ân thưởng cho thầy huy chương Văn hóa Giáo dục Bội tinh. • Phương danh GS Nguyễn Khắc Hoạch được rạng rỡ ghi trong các quyển Who’s Who in the World, Men of Achievement, International Book of Honor, và Intetnational Who’s Who in Asian Studies.
Tác phẩm:
• Le Japon et le Traité de Paix, Paris, 1952
• Le Roman Vietnamien au 18e et 19e Sìecle, Paris, 1955
• Les Ralations Américano-japonaises depuis 1951, Paris, 1957
• Xây Dựng và Phát Triển Văn hóa Giáo dục (Lửa Thiêng, Sàigòn, 1970)
• Thành Phố Trong Hồi Tưởng (Tùy bút, An Tiêm, Los Angeles, USA, 1991)
• Nửa Khuya Giấy Trắng (Thơ, Thanh Văn, Los Angeles, 1992)
• Nhớ Đất Thương Trời (Thơ, Thế Kỷ, Los Angeles, 1995)
• Hạnh Phúc Đến Từng Phút Giây (Thơ, Văn Học, Los Angeles, 1999)
• Dăm Ba Điều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật (Tiểu luận, Văn Nghệ, 2001)
• Suối Tím (Thơ, Văn Nghệ, 2003)
• Tuyển Tập Trần Hồng Châu (Thơ, Tùy bút, Tiểu luận, Viện Việt Học, 2004)
(Viết bởi Lâm Hữu Tài, ban Việt Hán, khóa 1966-1969)
Giáo sư Lưu Khôn

Quê ở Xã Mỹ trà, Quận Cao lãnh, Tỉnh Đồng Tháp.
Nguyên Giáo sư Hán Văn tại ĐH Sư Phạm, ĐH Văn Khoa Sàigòn và ĐH Cần Thơ (trước 1975).Sau tháng 4/75 thầy vẫn tiếp tục dạy học tại ĐH. Sư Phạm và ĐH. Văn khoa Sàigòn.
Giữa thập niên 1980, thầy được con trai bảo lãnh sang định cư tại Hoa kỳ cho tới nay.

Từ trái sang phải: Bà Lưu Thị Hoàng Hoa (em gái GS Lưu Khôn), GS Lưu Khôn, Phu nhân anh L.H.Tài, Bà Lưu Khôn, anh Lâm Hữu Tài, các cháu Bà Lưu Khôn, trong một lần về thăm quê hương.
Linh mục Thanh Lãng

Cố GS. LM. Thanh Lãng tên thật là Đinh Xuân Nguyên, sinh tại làng Tam Tổng, Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Thuở bút nghiên:
- Thiếu thời, GS học tại trường làng. Năm 12 tuổi học tại Tiểu chủng viện Ba Làng. Năm 1945, thi đậu Tú tài toàn phần. Năm 1947, học triết tại Đại chủng viện Xuân Bích (Hà Nội). Năm 1949, được cử sang học tại Trường truyền giáo Rôma. Năm 1953 được thụ phong Linh mục. Sau khi được thụ phong, GS tiếp tục theo học Ban Văn chương và đậu Tiến sĩ tại Đại học Fribourg, Thụy Sĩ.
Thời hoạt động trong lãnh vực văn hóa giáo dục:
- Năm 1957 GS về nước và được bổ nhiệm làm Giáo sư tại Tiểu chủng viện Tân Thanh (Bảo Lộc, Lâm Đồng). Trong thời gian này GS cũng được mời giảng dạy tại Đại học Văn khoa Huế, Đại học Văn khoa và Đại học Sư Phạm Sàigòn suốt từ năm 1957 đến 1975.
- Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, GS chuyển sang nghiên cứu lãnh vực ngôn ngữ tại Viện Khoa học xã hội TP. HCM.
- Suốt quá trình làm công tác trong ngành giáo dục, từ năm 1957 đến năm 1975, GS cống hiến rất nhiều cho nền học thuật nước nhà; chuyên tâm nghiên cứu trong lãnh vực văn chương để phục vụ việc giảng dạy trong điều kiện đất nước còn thiếu sót rất nhiều tài liệu học tập bậc đại học.
- Chủ biên các tạp chí: Việt tiến, Trách nhiệm, Nghiên cứu văn học, Tin sách... và viết nhiều bài đăng trên nhiều báo khác với các chủ đề xoay quanh nền văn học Việt Nam. Hầu hết các bài viết của GS đều chú trọng các đề tài như Lịch sử phát triển chữ Quốc ngữ, Văn chương Quốc âm, Giáo trình Văn chương Việt Nam… Ngoài ra, GS cũng viết nhiều bài phê bình văn học, một số bài viết về các tác giả: Nguyễn Du, Nhất Linh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh...
- Không lâu sau, GS lâm trọng bệnh và qua đời tại TP Hồ Chí Minh.
Các sách đã xuất bản:
• Khởi thảo văn học sử Việt Nam: Văn chương bình dân (Hà Nội, 1953; Sài Gòn, 1954, 1957)
• Biểu nhất lãm văn học cận đại Việt Nam (Sài Gòn, 1957)
• Đóng góp của Pháp trong văn học Việt Nam (Luận án Tiến sĩ, 1961)
• Thử suy nghĩ về về văn hóa dân tộc (Sài Gòn, 1967)
• Bảng lược đồ văn học Việt Nam (2 tập, Sài Gòn, 1967)[1]
• Văn học Việt Nam: Đối kháng Trung Hoa (Sài Gòn, 1969)
• Văn học Việt Nam: Thế hệ dấn thân yêu đời (Sài Gòn, 1969)
• Phê bình văn học thế hệ 1932 (2 quyển, Sài Gòn, 1972)
• Tự điển Việt-La-Bồ (dịch chung với Hoàng Xuân Việt và Linh mục Đỗ Quang Chính, 1991)
• 13 năm tranh luận văn học (3 tập, 1995)
Và nhiều tác phẩm chưa in khác.
(Viết bởi Lâm Hữu Tài, ban Việt Hán, khóa 1966-1969)
Giáo sư Lâm Thanh Liêm

Tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Sorbonne- Paris, ông đã từng là giáo sư trường Đại học Sư Phạm Sàigòn, giáo sư kiêm trưởng ban Địa lý trường Đại học Văn Khoa Sàigòn, nguyên Tổng thư ký Viện Đại học Saigon.
Ông cũng là giáo sư về ngành khoa học xã hội tại Viện Đại học Vạn Hạnh, ngành chính trị kinh doanh tại Viện Đại học Đà Lạt, ngành thương mại tại Đại học Minh Đức,đồng thời ông cũng giảng dạy tại các Đại học khác như Viện Đại học Huế và Viện Đại học Cần Thơ.
Sau tháng 4 năm 1975,dưới chế độ cộng sản, ông bị cưỡng bách "học tập cải tạo"trong thời gian 3 năm (1975-1977). Sau đó ông làm việc trong ngành nông nghiệp cho tới năm 1979 thì sang Pháp đoàn tụ với gia đình.
Hiện hưu trú tại Pháp sau một thời gian làm Chuyên gia khảo cứu của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học Pháp (CNRS) và giảng sư của Đại học Sorbonne Paris IV.
Giáo sư Trần Trung Lương

Nhà văn Trà Lũ tên thật là Trần Trung Lương, sinh tại Ninh Bình, Bắc Việt. Vào Nam năm 1954. Giáo sư Đại học Sư phạm Sài Gòn trước 1975. Hiện định cư tại thành phố Toronto (Canada) và làm việc cho Bộ Văn Hoá & Công Dân của tỉnh bang Ontario. Ông sáng tác sau 1975, cộng tác với nhiều tạp chí tại hải ngoại.. Từng giữ chức chủ tịch Văn Bút Việt Nam trung tâm Ontario (1991-1995). Những tác phẩm của ông, hầu hết đều lấy cái nền Đất để trưng bày những vấn đề trong cuộc sống, cùng tình cảm ông dành cho mỗi góc cạnh cuộc đời. Sau những: Miền Đất Hạnh Phúc (1989), Đất Mới (1991), Miền Đất Hứa (1993), Đất Thiên Đàng (1995), Đất Yêu Thương (1997), Đất Lạnh Tình Nồng (1999), Đất Quê Ngoại (2001), Đất Anh Em (2003).. đến nay là Đất Nhà. Sức viết của ông khá mạnh và cứ chu kỳ hai năm, ông lại "lên khuôn" một lần để gởi đến bạn đọc.
(Trích bài của Võ Kỳ Điền, ban Việt Hán, khóa 1961-1964)
Giáo sư Lê Hữu Mục
Giáo sư LÊ HỮU MUC sinh ngày 24/11/1925 tại làng Lưu Phương, Phát Diệm, tỉnh Ninh Bình, Bắc Việt. Hiện định cư tại Canada.Nguyên Giáo sư Đại học Sư Phạm Sàigòn, Đại học Sư Phạm & Đại học Văn khoa Huế. Nguyên Giám Đốc Nha Sư Phạm Bộ Giáo Dục VNCH.
Những tác phẩm đã xuất bản:
- Chèo Đi Bơi Đi (nhạc và lời, 1941)
- Thân Thế và Sự Nghiệp Nhất Linh (1955)
- Nhận Định về Đoạn Tuyệt (1955)
- Luận Đề về Khái Hưng (1956)
- Luận Đề về Hoàng Đạo (1956)
- Chủ Nghĩa Duy Linh (1957)
- Văn Hóa và Nhân Vị (1958, viết chung với Bùi Xuân Bào, Võ Long Tê)
- Thảm Trạng của Một Nền Dân Chủ Vô Thần (1958)
- Lĩnh Nam Chích Quái (1959)
- Việt Điện U Linh Tập (1960)
- Quân Trung Từ Mệnh Tập (1960)
- Ức Trai Thi Tập (1961)
- Nhị Khê Thi Tập (1962)
- Băng Hồ Ngọc Báo Tập (1963)
- Chúa Thao Cổ Truyện ( 1965)
- Lịch Sử Văn Học Việt Nam (tập 1, 1968)
- Khóa Hư Lục (1973)
- Truyện Kiều và Tuổi Trẻ ( viết chung với bà Phạm Thị Nhung và Ds Đặng Quốc Cơ, nxb Làng Văn, 1998)
- Tiếng nói Đoàn Thị Điểm trong Chinh phụ ngâm khúc (viết chung với bà Phạm Thị Nhung - 2001).
(Viết bởi Lâm Hữu Tài và các cựu SV ban Việt Hán, khóa 1966-1969)
Giáo sư Đàm Trung Pháp
Giáo sư Đàm Trung Pháp là một nhà giáo dục ngôn ngữ, chuyên về ngữ học áp dụng, ngữ học so sánh, và phương pháp giảng dạy tiếng Anh như sinh ngữ thứ hai. Được hấp thụ hai nền giáo dục đại học Hoa Kỳ và Việt Nam, ông hoàn tất các văn bằng cử nhân Anh văn tại Đại Học Miami, cao học ngữ học tại Đại Học Georgetown, và tiến sĩ giáo dục tại Đại Học Saigon.
Tại quê nhà, ông dạy ngữ học tại Đại Học Sư Phạm Saigon từ 1968 đến 1975. Từ 1969 đến 1971 ông kiêm nhiệm các chức vụ giám đốc Trường Sinh Ngữ và giám đốc Trung Tâm Thính Thị Anh Ngữ của Bộ Giáo Dục, rồi được bổ nhiệm làm giám đốc Trung Tâm Sinh Ngữ năm 1971 khi hai cơ sở trên được sáp nhập với danh xưng mới và đặt trực thuộc Đại Học Sư Phạm Saigon.
Tỵ nạn tại Mỹ, ông từng dạy ngữ học tại Đại Học Our Lady of the Lake tại San Antonio, Đại Học Texas A & M tại Commerce, Đại Học Texas tại Dallas, cũng như điều khiển chương trình ngôn ngữ thế giới cho Khu Học Chánh Dallas. Từ 2004 đến nay, ông là giáo sư thực thụ (tenured full professor) kiêm giám đốc chương trình đào tạo giáo chức song ngữ (Spanish/English bilingual education) và giáo chức ESL (English as a Second Language) ở bậc cử nhân và cao học cho Texas Woman’s University tại Denton. Từ 2005 đến nay ông cũng là chủ biên (series editor) của một chuyên san về giáo dục ngôn ngữ dưới sự bảo trợ của Liên Viện Đại Học Bắc Texas (Federation of North Texas Area Universities).
Giáo sư Đàm Trung Pháp cũng là một diễn giả quen thuộc tại các hội nghị toàn quốc tổ chức bởi các chuyên hội giáo dục ngôn ngữ như National Association for Bilingual Education (NABE) và Teachers of English to Speakers of Other Languages (TESOL).
Giáo sư Đàm Trung Pháp là tác giả (author), tác giả đóng góp (contributing author), hoặc chủ biên (editor) của các sách, chuyên san, và tài liệu giáo khoa liệt kê sau đây:
- [Tác giả 1972] The Fundamentals of American English Phonology. Trung Tâm Sinh Ngữ, Đại Học Sư Phạm Saigon.
- [Tác giả 1974] The Fundamentals of American English Syntax. Trung Tâm Sinh Ngữ, Đại Học Sư Phạm Saigon.
- [Tác giả 1980] A Contrastive Approach for Teaching ESL to Indochinese Students. Intercultural Development Research Association, San Antonio.
- [Tác giả 1981] The IDRA Structured Language Interview. Intercultural Development Research Association, San Antonio.
- [Tác giả 1981] The IDRA Oral Language Dominance Test. Intercultural Development Research Association, San Antonio.
- [Tác giả 1981] A Manual for Teachers of Indochinese Students. Intercultural Development Research Association, San Antonio.
- [Tác giả đóng góp 1991] Teaching Linguistically Different Learners. Alpha Editions, Edina, Minnesota.
- [Tác giả 1992] Immersion Spanish Programs in Elementary Schools. Dallas Independent School District, Dallas.
- [Tác giả 1994] Instructional Guide for World Languages. Dallas Independent School District, Dallas.
- [Tác giả đóng góp 2004] Resource Guide of Language Transfer Issues for English Language Learners. Rigby Textbook Company, Barrington, Illinois.
- [Chủ biên 2006] Cultural and Linguistic Issues for English Language Learners. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
- [Chủ biên 2007] Intercultural Understanding. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
- [Chủ biên 2008] Current Issues and Best Practice in Bilingual and ESL Education. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
- [Chủ biên 2009] Understanding the English Language Learner. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
- [Tác giả đóng góp 2010] Music in Elementary Education. Prentice-Hall, Upper Saddle River, New Jersey.
- [Chủ biên 2010] Teaching English Language Learners: An International Perspective. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
- [Chủ biên 2011, đang soạn thảo] Linguistic and Cultural Considerations for English Language Learners. Federation of North Texas Area Universities, Denton, Texas.
(Nguồn:http://www.viethoc.com)
____________________________________________________________________________________________________________
Giáo sư Chu Phạm Ngọc Sơn
Quê quán: Tỉnh Hưng Yên
Cơ quan công tác: Trung tâm Dịch vụ phân tích Thí nghiệm. Số 2 Nguyễn Văn Thủ, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
Quá trình công tác
1957-1975: Giảng dạy tại Đại học Khoa dược Sài Gòn, Đại học Khoa học Saigon, và Đại học Sư Phạm Saigon.
1975-1987: Cán bộ giảng dạy Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
1986-2002: Giám đốc Trung tâm Dịch vụ Phân tích Thí nghiệm, kiêm Chủ tịch liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh
2002-2003: Phó chủ tịch Liên hiệp các hội khoa học và Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.
Hướng nghiên cứu khoa học chủ yếu
Nghiên cứu cơ chế phản ứng hữu cơ. Tổng hợp hữu cơ tinh vi. Phương pháp phân tích vết.
Một số kết quả đào tạo và nghiên cứu khoa học
Hướng dẫn thành công 4 luận án tiến sĩ cấp Ba, 1 luận văn Thạc sĩ (trước 1975). Công bố 200 bài và báo cáo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành. Có 5 công trình được đưa vào sản xuất. Xuất bản giáo trình: Hóa học đại cương, Nhiệt động hóa học.
Khen thưởng
Huy chương cành cọ hàn lâm khoa học Pháp. Huân chương Lao động hạng Ba. Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc. Huy chương về sự nghiệp giáo dục. Huân chương vì sự nghiệp Khoa học và Kỹ thuật. Huy chương về thế hệ Trẻ. Kỷ niệm chương về sự nghiệp Dân vận.
Ghi chú đặc biệt : Anh Hạnh tôi đã học trường Taberd Saigon, vô tình tôi lật xem quyển kỷ yếu Taberd năm đó, thì ngạc nhiên mà thấy môn nào thầy Sơn cũng đứng hạng nhất, nhất tất cả mọi môn. Sau này khi ông dạy tôi tại hai trường Đại học Sư Phạm và Đại học Khoa học Saigon, tôi đã thán phục mà nhắc lại điều này. Chưa nói đến khi tôi đưa hai bạn, một Pháp, một Mỹ tới gặp ông, ông đã nói cả hai thứ tiếng rất trôi chảy, khiến chúng tôi mê luôn (Ông có 2 bằng tiến sĩ, một Mỹ, một Pháp).
GS. TS. CHU PHẠM NGỌC SƠN đã rất nhiều lần giúp cho đất nước về phương diện khoa học HÓA HỌC, thông qua các báo cáo :
1/ KHẲNG ĐỊNH: “Thủ phạm gây nhiễm bẩn nước sinh hoạt từ nhà máy nước Tân Hiệp là vi khuẩn sắt và mangan”
2/ Ngày 18/7/2006, GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn - Phó chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học & kỹ thuật - Chủ tịch Hội Hóa học TP.HCM cho biết: “Để xác nhận thêm nguyên nhân gây nhiễm bẩn nước sinh hoạt.
3/ GS- TS Chu Phạm Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học kỹ thuật TPHCM cho rằng, viện nghiên cứu đi vào hoạt động sẽ giúp Bianfishco nâng cao chất lượng thuỷ sản từ vùng nuôi đến bàn ăn, đáp...
4/ Lần này, GS Chu Phạm Ngọc Sơn đã khẳng định chắn chắn: Vi khuẩn...Ảnh: HOÀNG ANH THƯ
5/ GS ChuPhạm Ngọc Sơn cho biết: Tình trạng nước nhiễm bẩn trên...
6/ Biết vi phạm an toàn vệ sinh thực phẩm, nhưng... vẫn làm sản xuất nào cũng biết là vi phạm ATVSTP. Thế nhưng, bất chấp tất cả, họ vẫn làm vì...tiêu dùng? Theo GS-TS Chu Phạm Ngọc Sơn (Trung tâm Đào tạo và Phát triển sắc ký TPHCM) lo ngại rằng khi tái chế sử dụng lại các...
_______________________________________________________________________________________________________________________
Giáo sư Nguyễn Trần Trác
Giáo sư Nguyễn Trần Trác cũng là cựu SV ĐHSP Sàigòn, ban Lý Hóa, khóa 1963-1967.
Sau khi ra trường năm 1967, ông về dạy tại nhiệm sở đầu tiên là trường Nữ Trung học Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho.
Năm 1972, ông tốt nghiệp Tiến sĩ Vật Lý tại Đại học Khoa học Sàigòn. Sau đó, ông sang Pháp tu nghiệp.
Trở về Việt Nam, ông làm giảng sư tại Đại học Sư phạm Sàigòn, môn Vật Lý.
Sau tháng 4/75, ông tiếp tục giảng dạy ở Đại học Sư phạm Tp HCM đồng thời kiêm chức Trưởng phòng Quan hệ Quốc tế trong 10 năm trước khi rời chức vụ nầy.
Dù đã đến tuổi về hưu, hiện nay Gs Nguyễn Trần Trác vẫn còn giảng dạy tại một số trường Đại học ở Sài gòn.
__________________________________________________________________________________________________________________
Giáo sư Mai Thanh Truyết

Giáo sư Mai Thanh Truyết tốt nghiệp Tiến sĩ Hóa Học Đại học Besancon, Pháp. Trong thời gian ở Pháp, Ông làm Assistant phụ trách Thí nghiệm Hóa Vô cơ tại Institut de Chimie, Besancon, Pháp.
Tại Việt Nam, trước năm 1975, Ông là Giảng sư (Associate-Professor), Trưởng ban Hóa học, Đại học Sư phạm Sài Gòn, đồng thời là Giám đốc Học vụ, Viện Đại học Cao Đài, Tây Ninh.
Từ lúc định cư ở Hoa Kỳ, ông đã từng giữ các chức vụ:
• Nghiên cứu cho Chương trình thuộc Viện Y tế Quốc gia (NIH) của Đại Học Y Khoa Minnesota.
• Giảng dạy Hóa học Đại cương tại King College, Fresno, California.
• Giám đốc Phòng thí nghiệm và Giám đốc Xử lý Phế thải, Chemical Waste Management, Kettleman City, California.
Hiện nay Giáo sư Mai Thanh Truyết vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực chuyên môn như:
* Giám đốc nhà máy xử lý nước thải (Leachate Treatment Plant), BKK Corporation, West Covina, California.
* Giám đốc Kiểm soát An toàn và Phẩm Chất (QA/QC), Weck Laboratories Inc., Industry City, California.
* Giám đốc Kỹ thuật, Environment Consultant Services, Los Angeles.
Trong công tác Hội đoàn, Ông là Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Hội Khoa học & Kỹ thuật Việt Nam tại Hoa kỳ (VASTS).
Để biết rõ hơn về các hoạt động của Giáo sư Mai Thanh Truyết, xin mời vào trang web sau đây: http://maithanhtruyet.blogspot.com
Giáo sư Lê Văn


Giáo sư Lê Văn chụp hình chung với các cựu Giáo sư và cựu Sinh viên ĐHSP Sàigòn Nam Cali nhân ngày họp mặt 19/04/2009.
Giáo sư Trần thị Khánh Vân

Trước 30/04/1975, Bà là Giáo sư Sử học tại trường Đại học Sư Phạm Sàigòn.
Hiện đang định cư tại Mỹ với phu quân là Giáo sư Phạm Cao Dương.
Giáo sư Nguyễn Than
h Vân

Ông là giáo sư phụ trách môn Sinh học Thực Vật thuộc ban Khoa học tại trường Đại học Sư Phạm Sàigòn.
Một trong những hoạt động mà Giáo sư Nguyễn Thanh Vân đã thực hiện cho sinh hoạt tập thể của Liên khoa Đại học Sư phạm Sàigòn là đảm nhiệm chức Trưởng đoàn chuyến du khảo "Đi trên quê hương" do Ban Đại diện ĐHSP tổ chức vào năm 1973. Dịp nầy, ông đã hướng dẫn các sinh viên cả hai ban Văn chương và Khoa học của ĐHSP Sàigòn đi thăm đất nước trên chuyến tầu Hải quân HQ 500, tuyến đường Sàigòn-Rạch Giá-Hà Tiên-Hòn Sơn Ray.
Hiện nay Giáo sư Nguyễn Thanh Vân đang hưu trú tại Pháp.