Mọi thư từ, bài vở ... xin gởi về:
Khảo luận
Thanh Hóa tổ chức hội thảo tìm cách viết lại
Sử Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn
Ái hữu ĐHSP Sàigòn hân hạnh gởi đến độc giả loạt bài sau đây do Trần thị Tuyết Lê - cựu SV ĐHSPSG, ban Sử Địa, khóa 1974-1977 - biên soạn và diễn đọc trên Radio SBS Sydney (Úc).
( SBS Radio: http://www.sbs.com.au)
(Xin bấm vào: Radio - Language - Vietnamese - Go)
Thưa quý vị thính giả thân mến,
Cuối tháng 10-2008 vừa qua tại Thanh Hoá đã diễn ra một cuộc hội thảo mà theo tin các báo đài, nó đã “quy tụ hàng trăm nhà khoa học trong và ngoài nước đến dự.” Một điều lạ là giữa khi Việt nam đang gặp nhiều bế tắc trước những vấn đề sinh tử như kinh tế tài chánh bị khủng hoảng, ô nhiễm đang phá huỷ nhiều sông ngòi miền Nam, vấn đề tranh chấp lãnh thổ lãnh hải với Trung cộng, quốc nạn tham nhũng gần như hết thuốc chữa vân vân..., thì cuộc hội thảo lại diễn ra với một chủ đề khá bất ngờ: “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ 16 đến 19.” Mục đích chính của cuộc hội thảo là dọn đường cho một công trình viết lại trang sử nhà Nguyễn dưới phương pháp không mới mẻ được đề nghị bởi giáo sư Phan Huy Lê: Khách quan, Trung thực, Công bằng về Chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
Tuyết Lê sẽ có bài tường trình đến quý vị thính giả của đài SBS những điểm chính của cuộc hội thảo nói trên, một cuộc hội thảo với nội dung sử học mà ít ra đến nay những nhà viết sử xã hội chủ nghĩa đã thấy được là quan trọng. Nói quan trọng vì hiển nhiên khi vấn đề này được đưa ra ở tầm mức quốc gia và có quốc tế tham dự, nó mặc nhiên thú nhận một điều then chốt: trang sử Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn từng được viết bởi chế độ CSVN từ khi họ nắm quyền rõ ràng là một trang sử viết sai với ác ý, mà sự xuyên tạc, qua đó đã được dùng như một phương pháp chỉ đạo căn bản, hay dựa theo tiêu chuẩn ông Phan Huy Lê mới đưa ra, thì ít nhất, trang sử này từng được viết với một tiêu chuẩn hoàn toàn trái ngược, đó là: chủ quan, bóp méo, và bất công.
Tuy nhiên có một điểm ý nghĩa đáng ghi nhận là cuộc hội thảo đã được nhóm họp tại ngay trên đất Thanh, đất tổ nhà Nguyễn, nơi phát xuất cuộc Nam tiến mà nhờ đó, đất nước chúng ta mới có được bờ cõi như ngày nay.
Và trước khi tường trình lại một số chi tiết chính của buổi hội thảo, có lẽ cũng là một dịp tốt để Tuyết Lê xin mời quý thính giả cùng Tuyết Lê thăm lại mảnh đất xứ Thanh nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều đền đài lăng tẩm, nhiều nhân tài cả văn học và lịch sử, nhất là có một nền văn hoá Đông Sơn từng được khai quật bên bờ sông Mã, vốn được coi như nền văn hoá tiêu biểu cho dân tộc Việt thời kỳ dựng nước.
Về mặt địa dư và dân số hiện nay, để dễ hình dung ra tỉnh Thanh Hoá, chúng ta có thể so sánh nó với thành phố Sydney . Diện tích cả tỉnh Thanh rộng hơn 11 ngàn cây số vuông với dân số gần 4 triệu. Thành phố Sydney rộng hơn 12 ngàn cây số vuông với dân số trên 4 triệu.
Thanh Hoá là cái cổ của đất nước, vì thế từ xưa đến nay, trong thời chiến nó luôn giữ một vị trí chiến lược. Nếu Hà Nội là Đông Đô thì Thanh Hoá cách Hà Nội 150 cây số được gọi là Tây Đô. Nó cũng còn được gọi là Hạc Thành vì phải chăng hình thể tỉnh Thanh giống hình con chim hạc?
Về mặt kinh tế thì trước 1945 Thanh Hoá vẫn được tiếng là vùng đất “gạo trắng nước trong,” là “vựa lúa miền Trung,” và khi nạn đói năm 1945 do quân phiệt Nhật gây ra, Thanh Hoá đã là một trạm tiếp nhận và cứu đói điển hình đối với đồng bào từ các tỉnh phía Bắc như Thái Bình, Nam Định chạy xuống.
Lại nữa, trận Điện Biên Phủ khó thắng nếu không có những đoàn dân công bền bỉ tải gạo, tiếp phẩm, thuốc men, đạn dược vân vân từ Thanh Hoá lên tiếp tế, nếu không có cao trào văn nghệ yểm trợ kháng chiến ở khu Tư mà Rừng Thông Thanh Hoá là nơi cho văn nghệ sĩ toàn quốc dùng làm tụ điểm sinh hoạt, để từ đó, nhiều danh tác ở đủ các bộ môn ra đời mà âm nhạc là quan trọng hơn cả, đến nay chúng ta vẫn còn nhớ, còn nghe.
Nhưng ngay giữa khi cuộc chiến chống thực dân Pháp đang xảy diễn thì có lẽ cũng chính Thanh Hoá là vùng đất khởi sự mang thảm họa trước nhất, nhiều nhất, và dài nhất.
- Thảm họa đầu tiên là Thanh Hoá đã trở thành đối tượng phá hủy không đau xót của người cộng sản khi cái gọi là tiêu thổ kháng chiến được tung ra năm 1945. Chẳng còn viên gạch viên ngói nào lành lặn ở xứ Thanh.
- Sau khi vật bị phá huỷ thì tới con người. Thanh Hoá vào đầu thập niên 50 đã trở thành một trong vài thí điểm đầu tiên cho phong trào đấu tố trong Cải cách Ruộng đất mà ông Hồ và đảng CS của ông học sách Tàu đem vào.
Hậu quả ghê sợ nhất chưa hẳn là cả chục ngàn người chết oan, mà là từ đấy, một nền văn hoá vốn đặt nặng đạo lý, trên kính dưới nhường, thủy chung như nhất, trọng nghĩa khinh tài của người Việt Nam từ ngàn xưa để lại đã gần như bị xoá sạch. Ảnh hưởng những thảm kịch con tố cha, em hại anh, trò chửi thầy, tớ giết chủ... đã biến ảo theo nhiều hướng tiêu cực khác nhau, rồi ảnh hưởng vào cách suy nghĩ, cách sống, cách cư xử giữa con người với con người từ gia đình ra ngoài xã hội đã từ từ lây lan ra cùng khắp miền Bắc XHCN, và ảnh hưởng ấy đến nay vẫn còn rất tai hại, tạo ra một khoảng cách khác biệt giữa kẻ Bắc người Nam mà đã hơn 30 năm thống nhất, khoảng cách ấy xem ra vẫn chưa thể nào thu ngắn lại được.
- Nhưng có lẽ điều cay đắng nhất với người dân của “vựa lúa miền Trung” ngày xưa là Thanh Hóa đã trở thành đối tượng chính của nạn đói triền miên; thậm chí sang đến thế kỷ 21 Thanh Hoá vẫn còn đói. Trên báo điện tử Vietnam Net của nhà nước CSVN, ngày 19 tháng 5 năm 2003 có một bài tường thuật dài về thảm nạn ăn mày. Xin trích đoạn: “Mấy năm gần đây, người ăn xin đã trở thành một thảm nạn đối với ngành du lịch, tạo hình ảnh rất xấu ở các đô thị. Bức xúc về điều này, nhiều độc giả đả phản ánh với Vietnam Net về hiện tượng một số kẻ tìm về một số xã thuộc huyện Quảng Xương, Thanh Hoá để tuyển mộ ‘cái bang’ rồi mang đi các tỉnh hành nghề.” Một câu hỏi đặt ra: sao người ta không vào Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ, Bạc Liêu vân vân mà tuyển cái bang, sao lại ra Thanh Hoá mà tuyển? Câu hỏi đã là câu trả lời cho thực trạng đói gần như “hết thuốc chữa” ở xứ Thanh vậy.
- Và thảm họa gần nhất là thảm hoạ bị sát hại ngay trên vùng biển quê hương, và chưa biết thảm họa này còn kéo dài đến bao giờ. Quả thế, từ khi Trung Cộng tiến chiếm và kiểm soát một vùng biển rộng lớn từ ngoài khơi vịnh Bắc Việt xuống tới Hoàng Sa và Trường Sa, nạn nhân của những vụ tàn sát trên vùng biển này lại không ai khác hơn là những ngư phủ Thanh Hoá. Những ngư phủ chết tức tưởi ngay trên biển nhà, mà không hề nhận được một lời bênh vực, một tiếng nói bảo vệ từ nhà cầm quyền CSVN.
Tuy nhiên, dù Thanh Hoá thăng trầm thế nào, về mặt lịch sử và con người lịch sử, vùng đất này vốn đã được tôn vinh là “địa linh nhân kiệt.” Chỉ riêng với giới phụ nữ thôi, nếu Phúc Yên sinh ra hai Bà Trưng thì Thanh Hoá cũng sinh ra bà Triệu, toàn là những nữ anh thư khi đứng lên phất cờ nương tử, chống giặc Tàu phương Bắc xâm lăng, đều được anh hùng hảo hán khắp nơi ùn ùn kéo đến xin đứng dưới cờ.
Nhưng trên hết, hiếm có vùng đất nào lại phát lên được tới ba dòng vua, hai dòng chúa như ở đất Thanh. Đó là vùng đất phát tích của nhà tiền Lê, hậu Lê, nhà Hồ; và là đất tổ của hai họ Trịnh Nguyễn mà sự tranh chấp giữa hai họ này, chắc là tất cả chúng ta đều còn nhớ đến thảm kịch Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài hơn trăm năm; nhưng trong khoảng thời gian hơn trăm năm đó, con cháu Nguyễn Hoàng đã từ từ mở cuộc Nam Tiến để người Việt hiện diện hết từ Chàm đến Thuỷ Chân Lạp và sau cùng, Việt Nam có được bờ cõi từ Ải Nam Quan – đã mất khi nhà nước CSVN tự tung tự tác nhượng cho Tàu – đến mũi Cà Mâu như hiện nay.
Nhà Nguyễn , kể từ khi Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, đã được các nhà chép sử xã hội chủ nghĩa Việt Nam , theo lệnh đảng nhìn như thế nào? công tội ra sao? và tại sao bây giờ họ cần viết lại những trang sử họ đã viết? ...
Xin mời quý vị nhấn vào nút dưới đây để theo dõi bài khảo luận.
Nhạc phẩm: "Ngàn năm Thăng Long"
Nhạc và lời của Hà Thúc Sinh, do chính tác giả trình bày.
Thanh Hóa tổ chức hội thảo tìm cách viết lại
Sử Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn
Đoạn kết
Kỳ trước chúng ta đã tìm hiểu được một số nguyên nhân tại sao người CSVN phải xuyên tạc trang sử vua chúa nhà Nguyễn, trong loạt bài kỳ chót này, chúng tôi mời quí độc giả bước hẳn vào cuộc Hội Thảo, tìm hiểu thêm xem Triều đại Nhà Nguyễn trước đây đã bị xuyên tạc như thế nào? và kết quả sau cùng của cuộc Hội thảo về Nhà Nguyễn và Vương triều Nguyễn tại Thanh Hóa ra sao? có mang lại cho những người viết sử XHCN Việt Nam một cái nhìn mới mẻ nào về nhà Nguyễn hay không?
Qua các sách sử từng được nhà nước in ấn, người đọc sách sẽ không khỏi kinh ngạc về những từ ngữ được sử dụng cho vua chúa nhà Nguyễn. Đó quả thật không phải ngôn ngữ của giới trí thức, của các nhà chép sử, phê bình sử, mà rõ ràng là thứ ngôn ngữ phỉ báng, chà đạp, nghe rất quen thuộc ở tòà án nhân dân thời đấu tố cải cách ruộng đất.
Nhà nghiên cứu Phan Thuận An xuất hiện trong cuộc thảo luận đã đưa ra một chứng liệu rất cụ thể về vấn đề phỉ báng tiền nhân này. Ông An nói: “Ngay trong lời giới thiệu bản dịch sách “Đại Nam thực lục” của Viện Sử học in năm 1961, hay các bộ sách khi đó được coi là chính sử do Uỷ ban Khoa học Xã hội tổ chức biên soạn (Lịch sử VN tập I, 1971, tập II, 1985), là sự lên án tuyệt đối với các lời lẽ nặng nề, mạt sát như: “Tối tăm, cực kỳ phản động, hủ lậu, mục nát, mù quáng, cực kỳ ngu xuẩn, vân.. vân... dành cho thời các Chúa Nguyễn và triều Nguyễn.”
Còn trong Quyển Lịch Sử VN Tập 2 của Nhà Xuất bản Qui Nhơn viết về triều Nguyễn , người đọc từ đầu chí cuối sẽ được đọc những bản cáo trạng hết sức gay gắt. Về chính sách đối ngoại của nhà Nguyễn, sách viết: “Đối ngoại, bọn chúng đã ra sức đẩy mạnh xâm lược đối với các nước láng giềng như Cao Miên, Lào, làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước tư bản phương tây thì chúng thi hành ngày một thêm gắt gao chính sách bế quan toả cảng và cấm đạo, giết đạo. Trước âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của bọn tư bản nước ngoài, nhất là tư bản Pháp, phong kiến nhà Nguyễn tưởng làm như vậy là tránh được nạn lớn. . . Rõ ràng với chính sách phản động nói trên, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi ngon đối với các nước tư bản phương Tây. . . Đó là tội lớn của phong kiến nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử.”
Nhưng một triều đại như triều đại nhà Nguyễn, từ Gia Long lên ngôi năm 1802 đến lúc Bảo Đạo thoái vị năm 1945, trải 13 đời vua kéo dài tổng cộng 143 năm, liệu có thể nào không làm được điều gì ích nước lợi dân? Mà chỉ làm toàn những việc xấu xa như cõng rắn cắn gà nhà và sau cùng bán nước? Đấy là điều đã gây thắc mắc lớn cho giới trí thức trẻ Việt Nam ngày nay và với cả các học giả người ngoại quốc.
Lịch sử rất ít khi là một con đường thẳng đơn giản, sáng trưng. Nó thường ngoằn ngoèo và có nhiều góc tối, vì thế người đi trên con đường đó phải chấp nhận nhiều bất trắc, nhiều vinh nhục, và nhiều bi kịch nữa.
Trong sử Việt có một câu đối đáp giữa hai danh nhân có lẽ toát lên được tính trung thực nhất cho thân phận kẻ đi trên đường lịch sử để làm lịch sử, đó là hai ông Ngô Thời Nhậm và Đặng Trần Thường. Từng là chỗ quen biết nhau. Ngô Thời Nhậm là danh sĩ Bắc Hà giúp Quang Trung đại thắng quân Thanh; Đặng Trần Thường ngược lại đã vào Nam phò Gia Long. Sau khi Gia Long thắng nhà Tây Sơn, ra Bắc cho triệu tập lại những danh sĩ từng phò Tây Sơn ra Văn Miếu mà đánh đòn. Đặng Trần Thường nhận nhiệm vụ trừng phạt này. Khi chạm mặt nhau trong hai vị thế giờ đã hoàn toàn khác, Đặng Trần Thường ra một câu đầy mỉa mai “Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai” và bắt Ngô Thời Nhậm đối. Nhậm đối lại rằng “Thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế.”
Trở lại Việc chúa Nguyễn Hoàng, để tránh sự sát hại của anh rể là Trịnh Kiểm, phải bỏ quê hương bản quán, vượt giải Hoành Sơn theo lời khuyên khéo của Trạng Trình vào trấn giữ đất Thuận Hoá giữa thế kỷ 16, từ đó cùng con cháu tiếp nối nhau qua 9 đời chúa và lập được đại công lao mở hướng phương Nam cũng chỉ vì “gặp thời thế thế thời phải thế”Còn Gia Long, một võ tướng chịu đựng biết bao cuộc bôn tẩu nhục nhằn, nhưng đã biết sử dụng thiên tài ngoại giao để không phải một mà đến bốn nước giúp đỡ đánh bại nhà Tây Sơn, lập những công trạng không thể chối cãi là hoàn thiện việc thống nhất lãnh thổ, xác lập hoàn toàn chủ quyền đất nước thì cũng là vì “gặp thời thế thế thời phải thế”, và những triều đại con cháu nối tiếp của vương làm cho mất nước vào tay Pháp, nghĩ kỹ lại cũng vì “gặp thời thế thế thời phải thế” mà thôi, vì khi làn sóng thực dân phương tây mạnh hơn, văn minh hơn tràn tới thì đến ngay như Trung Quốc, ông con trời phương Bắc khổng lồ kia cũng bị chia cắt, bị chà đạp như súc vật mà cũng chẳng làm gi hơn được. Người ta còn nhớ ở tô giới Hương Cảng, tại nhiều nơi công cộng, thực dân Anh đã từng treo bảng với hàng chữ “Cấm Chó và Người Tàu!”
Vì thế, trừ những triều đại cai trị bởi loại vua chúa như vua Trụ vua Kiệt, còn thì nhìn lại những tiền triều với cái hay cải dở nhất định phải có của nó, trong đúng vị trí và quang cảnh lịch sử của nó, ta dễ tìm được nhiều điểm tích cực để ôn cố tri tân, để học hỏi nếu nó được nhìn bằng một nhãn quan khoáng đạt, không câu chấp; nhưng nếu nhìn bằng một nhãn quan âm mưu như người cộng sản nhìn vua chúa nhà Nguyễn mà giáo sư Phan Huy Lê diễn tả một cách rất khéo là triều đại này đã bị cách mạng “đem đặt vào một cái khung suy vong” để làm cớ huỷ diệt, thì cuộc hội thảo tìm cách viết lại trang sử bị âm mưu bóp méo ấy thật sự là một việc làm của những người lương thiện, dù là khá muộn màng.
Trong cuộc hội thảo lần này đã như là một hội tụ quốc tế để những sử gia cùng nhau nêu lên thắc mắc lớn ấy và tìm cho nó một giải đáp. Đã có cả những phát biểu ca ngợi nhà Nguyễn của các học giả đến từ Đài Loan, Trung cộng, Nhật Bản, Nga sô, và hẳn là những phát biểu ấy gây phấn chấn không ít cho giới viết sử Việt đang nung nấu ước vọng cho một giải pháp hợp lý sớm được thành hình, đó là viết lại trang sử vua chúa nhà Nguyễn, đặt triều đại này vào đúng vị trí lịch sử và vị trí trong lòng dân tộc. Một học giả người Nga đã không tiếc lời ví vua Gia Long như một Peter Đại Đế của Việt Nam.
Tuy nhiên, lời quan trọng nhất vẫn là lời người trong cuộc. Giáo sư Phan Huy Lê, chủ tọa cuộc hội thảo. Lần này, ông đã gỡ xuống cái bản án chế độ từng gắn trên các phần mộ vua chúa nhà Nguyễn hơn 60 năm qua bằng sự thừa nhận công khai trước trí thức trong nước và quốc tế, kể cả trước các đại diện của chế độ như cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu và phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hoá Vương văn Việt. Theo giáo sư Lê thì qua các nghiên cứu mới đây, các nhà sử học Việt Nam tuy mức độ và chi tiết có khác nhau, nhưng tương đối đã thống nhất về những công lao của nhà Nguyễn, theo đó vua chúa nhà Nguyễn đã có công: “Khai phá và xây dựng miền Thuận – Quảng, mở mang lãnh thổ xuống phía Nam và xây dựng chính quyền, phát triển kinh tế hàng hoá và mở mang các đô thị, thống nhất đất nước trên cơ sở kế thừa sự chấm dứt chia cắt về mặt lãnh thổ mà nhà Tây Sơn đã đạt được trong một thời gian ngắn, xây dựng bộ máy chính quyền tập trung, xác lập chủ quyền lãnh thổ và thực thi chủ quyền Việt Nam trên một lãnh thổ tương đương lãnh thổ Việt Nam hiện nay, bao gồm cả biển, các quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong một bài viết góp ý với cuộc hội thảo về vấn đế viết lại trang sử chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn, có lẽ ý kiến của ông Dương Trung Quốc, một người viết sử của Hà Nội, về việc đánh giá là ngắn gọn và xúc tích hơn cả. Ông viết: “Lịch sử trung đại đầy bi kịch, ẩn trắc và tất yếu. Cái căn cốt nhất của sự đánh giá vị thế các chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn là việc nhận thức lại về một thời kỳ lịch sử mang tính chất bản lề với hai nội dung quan trọng. Đó là sự hoàn thiện lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, gắn liền với quá trình mở mang bờ cõi (nam tiến) và xác lập chủ quyền dân tộc, với tất cả một tầm nhìn lớn ra đại dương của ông cha chúng ta. Những đội Hoàng Sa được các chúa Nguyễn lập, tấm bản đồ “Đại Nam nhất thống toàn đồ” vẽ dưới thời Minh Mạng là những bằng chứng góp phần vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Vai trò của của các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn và triều Nguyễn cho đến nửa đầu thế kỷ 19 đã để lại một di sản thiêng liêng mà thời đại ngày nay chúng ta đang kế thừa là không gian và lãnh thổ của một quốc gia thống nhất.”
Trong bài đọc khá dài của giáo sư Phan Huy Lê, tại Hội thảo , ông đã khẳng định một câu thật là đúng: “Sòng phẳng với quá khứ để giải toả tâm lý xã hội.”
Và để cho sòng phẳng, việc viết lại trang sử nhà Nguyễn khi được tiến hành phải được đặt trên ba tiêu chuẩn khách quan, trung thực và công bằng. Ông lại đúng nữa. Tuy nhiên, ngạn ngữ Anh có câu: “Half the truth is often a whole lie,” có nghĩa là “Một nửa sự thật thường là một sự dối trá hoàn toàn.” Vào thời Đổi Mới năm 1987, trong nước dân gian đã tung ra một ngạn ngữ mới nghe còn hay và thực tế hơn nữa: “Nửa ổ bánh mì là bánh mì, nửa sự thật là nói dối.”
Thưa quí độc giả, viết lại sử nhà Nguyễn mà không viết lại giai đoạn lịch sử liền sau, tức từ năm 1945 trở đi, trong đó có thể chế Việt Nam Cộng Hòa, thì thế nào đi nữa, các sử gia lương thiện, trong đó có giáo sư PHL, cũng chỉ mới làm được một nửa sự thật!
Tuyết Lê - Sydney