Mọi thư từ, bài vở ... xin gởi về:
Sự đấu tranh vì quyền lợi và sự đấu tranh vì ý thức
Trong thế giới tự nhiên hay thế giới loài vật, cây lớn che hết ánh sáng của cây nhỏ, lấn át thức ăn trong lòng đất đối với cây nhỏ; con cá lớn nuốt con cá bé; con vật lớn ăn thịt con vật nhỏ hơn. Đó là qui luật về sinh tồn hay quy luật về chuỗi thức ăn của tự nhiên. Nó xảy ra một cách tự động, hầu như theo bản năng, và mỗi lúc được thỏa mãn xong thì không đòi hỏi tiếp. Con cọp, con sư tử giết con nai và ăn xong, thì nghỉ ngơi, không có nhu cầu tấn công con khác. Nhưng con beo, con sư tử có thể cùng đấu tranh để giành nhau mồi, con kềnh kềnh và loài chó hoang cũng vậy. Đó đều là những nhu cầu tự nhiên trong quy luật sinh tồn.
Trong chiến tranh, khi hai bên bắn giết nhau giữa mặt trận, bất kỳ người chiến sĩ của bên nào cũng không còn quyền lựa chọn. Phải bắn giết đối phương để sống còn, không thể lùi bước, lùi bước cũng bị trừng phạt, bị cấp chỉ huy bắn ngay tại chỗ, hay bị đưa ra tòa vì tội bỏ chảy hoặc đào ngũ. Người chỉ huy cũng vậy, được điều động và phải tuân theo lệnh chỉ huy của cấp trên tại chỗ. Chiến thuật thì do ban tham mưu chiến trường quyết định. Chiến lược thì do bộ chỉ huy quân sự hoặc các nhân sự chính trị có quyền quyết định. Tất nhiên, cũng có thể có người chiến sĩ có ý thức chiến đấu, hay mục đích chiến đấu tự giác, do tự mình. Nhưng phần lớn nói chung, tất cả họ đều chỉ là những cá nhân bị động.
Thế nhưng trong thời bình, thông thường con người đấu tranh nhau vì mục đích gì ? Đó có thể nói hoặc vì quyền lợi, hoặc vì ý thức. Đấu tranh có nghĩa là sự đương đầu, chiến đấu trong cách nào đó để giải quyết hơn thua với nhau. Đấu tranh cũng có nghĩa hai bên phải có mối quan hệ nào đó, trực tiếp hay gián tiếp, và cùng trong địa bàn hoặc môi trường cụ thể nhất định. Tuy nhiên, đấu tranh về quyền lợi thì vô hạn, còn đấu tranh về ý thức lại là lẽ công bằng. Cho dầu quyền lợi được hướng dẫn bởi ý thức, thì quyền lợi cũng chi phối ý thức, tức không thể có ý thức thuần túy, trừ phi ý thức đó là lẽ phải hay điều lý tưởng. Bởi nhu cầu của con người là vô hạn, nói theo kiểu bình dân là lòng tham không đáy, tức không bao giờ có chỗ dừng. Trong khi đó, ý thức lại có nghĩa về mặt tinh thần, nhận thức, hay có khi cũng chính là yêu cầu của lý trí.
Do đó, mối tương quan giữa lý trí và quyền lợi là điều luôn luôn có. Đấu tranh vì quyền lợi, có thể do sự tham lam, mà cũng có thể do nhu cầu nhằm giải quyết bất công. Nhưng điều gì đánh giá ý nghĩa của sự bất công hay không, cơ bản đó đó chính là là lý trí. Nói cách cụ thể, lý trí là năng lực phán đoán, biện biệt, cân nhắc. Nhưng lý trí không phải luôn luôn trừu tượng, thong dong, độc lập, dững dưng vô màu sắc, mà lý trí vẫn liên quan đến bản năng, tình cảm, cảm xúc, thói quen, trình độ, kinh nghiệm, cảm thức, trực giác, và nói chung là nhiều yếu tố khác nhau không phải thuần túy là lý trí, tức bên ngoài hay đi bên cạnh lý trí. Đây vẫn là điều thường có trong xã hội, trong trường hợp cá nhân, trường hợp đoàn, nhóm, tập thể, cộng đồng, hay toàn xã hội cũng vậy. Đó là lý do tại sao đối với mọi vấn đề, trong ý nghĩa khách quan và khoa học, cần được xét một cách chu đáo, bao quát, không thể chỉ hời hợt, cảm tính.
Bởi thế cũng có thể nói đấu tranh về quyền lợi hoặc mang tính chất tham vọng, hoặc mang tính chất công bằng. Tính chất tham vọng luôn luôn phức tạp, không giới hạn. Tính chất công bằng thì giản dị và có thể dễ thỏa hiệp hơn. Công bằng là sự thăng bằng hay hợp lý giữa đôi bên. Nhưng đâu là điểm giữa mới chính là ý nghĩa hay vấn đề đáng nói nhất. Vì điều này được quyết định do bởi sự nghiêng về tham vọng hay nghiêng về tính chất thuần lý. Giữa một nước lớn và một nước nhỏ sát bên chẳng hạn, sự công bằng về mọi tính cách hay lãnh vực được quyết định do đâu, điều này mọi người đều đoán biết, đó chính yếu hay trước hết là sự tương quan lực lượng, là tham vọng, còn sự công bằng lý tưởng hay thuần lý, nhiều khi khó có hay chỉ là ảo tưởng. Nhưng trong trường hợp như thế, thì đó không còn là tính nhân văn nữa, mà chỉ còn là sự đấu tranh sinh tồn, đấu tranh tự chủ bằng mọi cách, hay là sự đấu tranh không gian sống một cách chính đáng. Bởi tại sao, vì đối với thế giới thì luật pháp chung không mang tính chất tối thượng hay tuyệt đối, giống như trong vòng mỗi luật pháp quốc gia.
Vậy nên chỉ có đấu tranh ý thức giữa con người và con người mới là sự đấu tranh mang tính nhân văn và lý tưởng nhất. Bởi quyền lợi chính yếu thường là vật chất. Vật chất chỉ thỏa mãn nhu cầu thân xác, cho nên dầu chính đáng đến đâu vẫn cứ là thấp kém, không mang ý nghĩa cao được như chính ý thức, tinh thần. Vì vật chất thuần túy không bao giờ chịu nhường bước cho ý thức, tinh thần, trong khi đó ý thức, tinh thần lại có thể làm điều ngược lại, tức có thể tương nhượng, từ bỏ, hay thậm chí hi sinh đi cả các nhu cầu hoặc quyền lợi vật chất. Tại vì sao, vì vật chất có thể đáp ứng, phục vụ ý thức, tinh thần, nhưng điều ngược lại thì hoàn toàn không thể có. Đó là lý do cho thấy ý thức, tinh thần tại sao vẫn luôn luôn cao hơn cả quyền lợi và vật chất về phương diện lý tưởng và giá trị đạo đức. Có nghĩa sự đấu tranh ý thức có thể nhắm vào tinh thần hay quyền lợi, nhưng ngược lại sự đấu tranh vì quyền lợi vật chất thuần túy thì không bao giờ mang ý nghĩa tinh thần hoặc ý thức cao quý.
Đến đây đã quá rõ quyền lợi hay quyền lợi vật chất là gì, nên điều còn lại để đáng được thảo luận sẽ chỉ là tinh thần, hay quyền lợi ý thức, tinh thần là như thế nào. Tinh thần là ý thức nhận thức nơi con người. Điều này trong thế giới tự nhiên hay thế giới loài vật hoàn toàn không có. Bởi ý thức, tinh thần là sản phẩm của văn minh, văn hóa. Nó là tinh hoa của cá nhân cũng như của lịch sử và thế giới. Kết quả cùa nó là do sự phát triển, do truyền thống lịch sử, do sự trải nghiệm, sự giáo dục cũng như sự đào tạo về tất cả mọi mặt. Đó là ý nghĩa tại sao tinh thần lại ở trên vật chất, tại sao ý nghĩa tinh thần lại quyết định ý nghĩa và giá trị của vật chất mà hoàn toàn không phải ngược lại. Đó cũng là lý do tại sao tinh thần của con người không chỉ bao gồm khả năng nhận thức, khả năng lý trí, mà còn là ý nghĩa của tình cảm và ý nghĩa của cảm thức. Tình cảm ở đây là tình cảm cao quý, trong sáng, và cảm thức ở đây là các giá trị tâm linh, vượt lên trên vật chất. Điều này cũng cho thấy quan điểm duy vật thuần túy hay tầm thường không phải là quan điểm lý tưởng. Và trí thức mà chỉ có thức nhưng không có trí, tức yếu về mặt trí tuệ trong sáng, cũng chẳng có gì đáng nói.
Vậy nên, đấu tranh ý thức đúng nghĩa cũng chính là đấu tranh về mặt trí tuệ trong sáng. Trí tuệ trong sáng là trí tuệ phục vụ chân lý, công lý, lẽ phải, chính nghĩa, mà không phải chỉ nhằm vào các quyền lợi vật chất tự nhiên hoặc tầm thường. Bởi lẽ đó, sự công bằng, bình đẳng luôn thuộc phạm trù trí tuệ trong sáng. Ngược lại sự bất công, bất bình đẳng chỉ có thể thuộc phạm trù vật chất hay quyền lợi tầm thường. Đó cũng là ý nghĩa tại sao có sự phân biệt giữa trí tuệ và trí tuệ trong sáng. Bởi nếu trí tuệ chỉ là khả năng thông minh mà không trong sáng, trí tuệ đó trở thành khôn lõi, thành thủ đoạn, thành gian manh, mất tính nhân văn hay phản lại các giá trị nhân bản. Cho nên chỉ có trí tuệ trong sáng mới có thể đạt đến sự công bằng lý tưởng hay công bằng hợp lý và phù hợp. Nói cách sâu hơn, công bằng có thể là về mặt hình thức hay nội dung. Công bằng hiểu theo nghĩa ngang bằng là công bằng hình thức. Công bằng hiểu theo nghĩa thực chất, đó là công bằng nội dung. Công bằng hình thức có khi chỉ là sự cân bằng hình thức, như cái bập bênh trẻ con chơi hoặc cán cân nằm ngang giữa hai đĩa cân chẳng hạn.
Trong khi đó sự cân bằng của chiếc bàn, chiếc ghế, hay bất kỳ vật gì khác đặt trên mặt đất, không phải chỉ dựa trên một yếu tố, hai yếu tố, như trong công bằng hình thức mà trên kia đã nói, mà có thể phải dựa trên bà hoặc nhiều yếu tố. Rõ ràng công bằng thực tế ở đây là công bằng khách quan mà không phải công bằng hình thức. Một vật thể nào đó có thể cân bằng hay ổn định được trên mặt phẳng hơi nghiêng hoặc bất kỳ một loại mặt ngang lồi lõm thông thường nào đó, nếu người ta có thể làm sao cho nó thích đáng. Tức có yếu tố chủ quan hay yếu tố tiên quyết, và yếu tố khách quan, hay yếu tố thích ứng, cùng kết hợp lại với nhau. Trong xã hội loài người cũng thế, hoàn cảnh hay năng lực cá nhân, kết hợp cùng với điều kiện khách quan hoặc xã hội, đó là lẽ công bằng, mà không phải công bằng là sự cân bằng, sự ngang đều một cách hoàn toàn trừu tượng, phi màu sắc kiểu tư duy, suy nghĩ theo cách toán học. Công bằng xã hội chính là sự cân bằng theo cách nhân văn mà không phải cân bằng theo kiểu vật lý. Con người có ý thức, có nhận thức, có lý trí, có tình cảm, có cảm thức xã hội, làm sao cho tất cả đều được thỏa mãn, hài hòa, đó là sự công bằng, mà không phải công bằng chỉ là sự tính toán máy móc trong mọi quyền lợi vật chất, tầm thường và thực tế.
Nói khác đi, trong quan hệ kinh tế xã hội vi mô, mọi sự công bằng được xây dựng trên nền tảng cá lẻ. Trong khi đó, trong mọi quan hệ kinh tế xã hội vĩ mô, mọi sự công bằng phải được xây dựng trên nền tảng đại tượng, tức nền tảng tổng gộp và bao quát. Tất cả những điều gì viết đến đây không phải sính lý luận hay thuần lý thuyết, nhưng là muốn nhìn một cách toàn diện, rốc ráo và khoa học. Bởi bất kỳ một bài viết nào, của ai cũng thế, ngoài chủ đề hay đề tài, nội dung, vẫn còn sự diễn đạt. Diễn đạt giản đơn quá, người bình dân, không chuyên môn dễ hiểu, song người trí thức hoặc trình độ cao lại cảm thấy tầm thường, cũng như ngược lại. Cho nên trong hoạt động nhận thức của xã hội, hệ thống kim tự tháp luôn luôn là lẽ đương nhiên, giống như nước chảy xuống, mọi cái đều có nhu cầu liên tục, liên thông trong các yếu tố của nó, là điều hoàn toàn thực tế mà ai ai cũng biết. Cho nên nói về đấu tranh quyền lợi hay đấu tranh ý thức cũng chính là nói về những cái gì chung nhất. Những cái chung nhất đó không phải chỉ có trong phạm vi hay bình diện kinh tế, mà cả trong phạm vi hay bình diện chính trị, xã hội, pháp lý, nhận thức, và ý thức nói chung.
Đó cũng là ý nghĩa của lẽ công bằng như đã nói. Bởi nếu lẽ công bằng chỉ được người nào đó hiểu ở bình diện này mà lại được người khác đưa ra ở bình diện khác, có khác chi chuyện ông nói gà bà nói vịt, không cùng chung mẫu số, làm sao người ta có thể đối chiếu nhau thống nhất được. Như nói về dân chủ, tự do, đa nguyên đa đảng chẳng hạn, người thì nói ở bình diện ý thức hệ, người thì nói ở bình diện phi ý thức hệ, làm thế nào mà cùng nói, cùng nghe, cùng hiểu nhau được. Đó là chưa nói việc mục đích nói là nhằm vào các quyền lợi vật chất, tinh thần hay ý thức, quyền lợi riêng tư, bản thân hay quyền lợi chung của mọi người, của quốc gia, của xã hội, của đất nước hay đại cuộc. Bởi vậy, trên báo chí ngày nay, nhất là ở nước ngoài, những người Việt với nhau, hay thấy việc chữi nhau một cách đọa mạng, mà có khi cũng chẳng cần biết làm thế là đúng sai hay phải trái. Nếu như thế thì làm gì còn có lẽ công bằng, mà không công bằng thì tại sao đòi công bằng, không chấp nhận tự do, dân chủ tại sao đòi tự do, dân chủ. Đó là điều nghịch lý, ngược ngạo, trái trớt và mâu thuẫn. Cho nên điều cần nhất ngày nay chính là ý nghĩ và tiếng nói của mọi người Việt, dù ở đâu cũng vậy, cần phải là tiếng nói thống nhất. Bởi vì có nói được cùng chung một ngôn ngữ, mới khỏi phải thông qua phiên dịch, mọi người mới có thể hiểu trực tiếp cùng nhau, tức mới có thể hiểu nhau một cách dễ dàng, sâu sắc và chí lý được(1). Do thế, bài viết này, thật sự chẳng qua cũng chỉ là một sự gợi ý. Sự gợi ý đó chính là việc đi tìm một mẫu số chung cần thiết. Ngoài một thực lực thống nhất nào đó của mọi người Việt, trong nước cũng như ngoài nước, thì tiếng nói chung chính đáng, hữu lý, là điều không thể không có.
Tức điều tiên quyết nhất ngày nay, là việc cứ tiếp tục bảo thủ mọi ý thức hệ đã có, hay cùng vượt lên, hoặc vượt ra khỏi chúng một cách thật sự thoải mái, tự nhiên, vui vẻ, để cùng thật lòng, thật bụng, hướng đến tình đoàn kết, hòa hợp, và hòa giải cùng nhau. Có nghĩa, có nên chọn chung một yêu cầu, một tính chất khách quan, hay vẫn cứ tiếp tục bảo thủ mọi hướng chủ quan. Tính khách quan đó ngày nay phải chăng vẫn chỉ chỉ là niềm tin cũ vào các ý thức hệ, hay là sự thù hằn, nghi kỵ, hoài nghi vốn có. Hay tính khách quan đó chính là ý nghĩa khoa học, thực tiển, cởi mở, cũng như là các quyền lợi chung của cả một xã hội, dân tộc, đất nước. Điều đó cũng có nghĩa quyền lợi chung và quyền lợi riêng nào đó, tất không thể bao giờ tuyệt đối phù hợp cung nhau. Cho nên khi bó buộc, người ta chỉ có thể hi sinh được cái nhỏ hơn cho cái lớn, vẫn chỉ là lẽ tự nhiên. Nhưng nói như vậy, vẫn cũng cứ còn là lý thuyết. Bởi vì chính cái gì mới thật sự là cơ sở hay yếu tố quyết định cho sự hi sinh đó. Và điều đó, phải chăng không gì ngoài khả năng nhận thức của con người, sự nhận thức về các mối đe dọa chung từ bên ngoài, nhận thức về các nhu cầu phát triển đi lên nói chung của dân tộc đất nước, nhận thức về ý nghĩa, giá trị tinh thần riêng nơi chính bản thân mình, cũng như kể cả sự nhận thức về ý nghĩa và giá trị chung của toàn bộ lịch sử nước nhà đã có từ hàng ngàn năm qua của dân tộc, mà từ cửa miệng mỗi người vẫn đã luôn luôn từng có dịp ca ngợi.
Võ Hưng Thanh
(Sg, 12/3/2011)
(1) Xem thêm cùng tác giả : Lại nói về xã hội, pháp luật và chính trị (11/3/2011)