• Trang đầu
  • Lời dẫn nhập
  • Vài nét về trường ĐHSP Sàigòn
  • Cựu Giáo sư ĐHSP Sàigòn
  • Cựu Sinh viên ĐHSP Sàigòn
    • Danh sách và tài liệu
    • Tin tức & Sinh hoạt
    • Viết về trường xưa
    • Một thời dạy học
    • Nhắn tin & Tìm bạn
  • Thời sự khắp nơi
  • Biên khảo
  • Thời điểm - Phiếm luận
  • Thơ
  • Văn
  • Nhạc
  • Chuyện quê nhà
  • Thư Việt Nam
  • Giới thiệu Sách & Tranh ảnh
  • Y tế & Khoa học
    • Y tế
    • Vườn dược thảo
Video - Thảo luận

ĐẤT NƯỚC LÂM NGUY

Giáo sư Phạm Cao Dương

Bài đã đăng
  • tháng 3-2012
  • tháng 2-2012
  • tháng 1-2012
  • tháng 12-2011
  • tháng 11-2011
  • tháng 10-2011
  • tháng 9-2011
  • tháng 8-2011
  • tháng 7-2011
  • tháng 6-2011
Weblinks
  • Blog & Website cựu SV & GS ĐHSPSG
  • Các hội đoàn bạn
  • Báo chí
  • Radio Việt Ngữ
  • Làn sóng nhạc

Mọi thư từ, bài vở ... xin gởi về:

daihocsuphamsaigon@gmail.com



PostHeaderIcon Thế nào là một xã hội tham nhũng?

Écrit par Võ Hưng Thanh

Con sâu làm rầu nồi canh. Khi trong một xã hội có những sự kiện tham nhũng xảy ra, được phát hiện vì không thể giấu giếm, toàn thể dư luận đều biết đến, người ta kết luận trong xã hội đó có tham nhũng. Như vậy tham nhũng là một hiện tượng có thể xảy ra trong bất kỳ xã hội nào. Tính cách là nhiều hay ít, mức độ trầm trọng của nó ra sao, mật độ của nó thế nào trong xã hội. Tất nhiên ai cũng biết tham nhũng là điều xấu, phi pháp, vi phạm đạo đức, bị mọi người chán ghét, lên án, phê phán, thế nhưng hành vi tham nhũng vẫn xảy ra lại chính là điều đáng nói nhất. Mặt khác, theo nguyên tắc mà nói, không bất kỳ chính quyền, chính phủ hay nhà nước nào muốn để điều đó xảy ra hay lộng hành trong đất nước, nhưng nó có xảy ra hay không, có dẹp được hay không, việc dẹp có hiệu quả và kết quả chưa, mức độ tràn lan và nghiêm trọng của nó ra sao, lại là việc khác.

Thời phong kiến Việt Nam, hay thời nước ta còn chịu sự đô hộ của người Pháp, dưới chế độ quân chủ và bảo hộ đó, hiện tượng tham nhũng hầu như chưa có hoặc không có, hay ít ra nếu có cũng chỉ là cá biệt, đặc thù, không công khai, phổ biến, tức mức độ nghiêm trọng hay lộ liễu như là không tồn tại, tức không hề trở thành vấn đề. Trong thời kỳ cả nước đang trong chiến tranh kéo dài, tức vào giữa cho đến gần hết thế kỷ vừa qua, miền Nam có rộ lên dư luận về tham nhũng vào giai đoạn gần cuối chiến tranh. Đó là giai đoạn viện trợ Mỹ còn ồ át, báo chí trong Nam lúc đó hầu như là tự do, cho nên người dân cũng biết tham nhũng lúc đó là hiện tượng của một số những thành phần chức sắc mọi loại ăn bẩn vào chính tiền bạc và hàng hóa viện trợ Mỹ. Còn miền Bắc lúc đó cũng là thời kỳ huy động tất cả vào chiến tranh, với kỹ luật thép áp dụng lên toàn xã hội, với quyền báo chí bị hạn chế nếu không nói chỉ nằm trong tay nhà nước, nên dù viện trợ của nước ngoài mà chủ yếu là Liên xô có nhiều đi chăng nữa, nhưng mọi người đều phải dốc lực làm việc, hoàn cảnh trăm bề đều thiếu, lại còn chiến tranh khốc liệt, cũng không thể có môi trường tham nhũng, hoặc đối tượng tham nhũng về mặt chủ thể ý thức và mặt đối tượng thu hưởng cũng rất khó hay có thể nói không thể nào xảy ra được, nhất là xảy ra được một cách quy mô hoặc lộ liễu.

Thế nhưng sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước đã trở thành thống nhất, chỉ còn một nhà nước duy nhất mà không còn hai nhà nước đối kháng và chiến đấu với nhau nữa, sự kiện tiêu cực trong xã hội cũng bắt đầu xảy ra, trước tiên rời rạc, cá biệt, không mấy quan trọng, sau thì cứ tăng cường thêm, nhân lên, mở rộng ra, trầm trọng hơn về nhiều phương diện và quy mô khác nhau, để ngày nay dư luận đều chú ý tới, kể cả đến nước ngoài và quốc tế cũng đều biết, đó là điều đáng nói nhất. Lúc đầu một số những hiện tượng tiêu cực nào đó không được báo chí nói đến, đó là thời kỳ bao cấp kéo dài, nói đến cũng chẳng khác gì bêu xấu xã hội, bêu xấu nhà nước, vạch áo cho người xem lưng, chỉ cần xử lý nội bộ, đó là thông lệ của thời kỳ bao cấp kéo dài, điều đó thì rõ ràng như cơm bữa. Rồi thời kỳ bao cấp cũng qua đi, xã hội đã được cởi trói, là thời kỳ mở cửa, đổi mới, hội nhập quốc tế như ngày nay, sự kiện tham nhũng hầu như đã trở thành thường xuyên, có khi công khai, tồn tại ở khắp mọi nơi, cũng là điều không thể phủ nhận hoặc chối cãi được, nên thật sự rõ ràng như ban ngày, ai cũng biết, nhưng tới nay vẫn chưa dẹp được. Nhất là báo chí đã được thoáng hơn, tự do hơn, tuy vẫn thuộc độc quyền của nhà nước, nhưng ít ra cũng còn dám nói phần nào, hoàn toàn khác hơn trước kia, cho nên tham nhũng cũng trở thành hiện tượng còn tồn tại tự nhiên trong xã hội, ai cũng biết, cũng đề cập, không cần gì phải che đậy hay giấu giếm nữa. Tất nhiên người biết rõ, đầy đủ mọi tính chất hay mức độ của tham nhũng, chính là giới báo chí, truyền thông, bởi vì họ luôn luôn có đầy đủ mọi thông tin, và chính bản thân giới tham nhũng, mà không phải người dân hoặc bất kỳ ai khác.

Thế thì suy cho cùng, vấn đề hiện tượng tham nhũng là vấn đề về bản thân con người và cơ chế xã hội mà không là gì khác. Bởi tham nhũng có nghĩa phải đi đôi với quyền hành cá nhân và sự vận hành chung của xã hội, đó là ý nghĩa căn bản nhất. Trong xã hội dân sự thuần túy, tất nhiên không thể có tham nhũng, bởi vì nó hoàn toàn không có mục đích, không có phương tiện, không có cơ sở. Cho nên tham nhũng chỉ xảy ra khi dựa vào quyền lực nhà nước, tức quyền hành xã hội hay sự vận hành chung của xã hội, nhất là những cá nhân cụ thể có tham gia vào sự vận hành đó hay có nắm trong tay phần nào các quyền hành đó. Điều này có thể đúng đối với bất kỳ công nhân viên chức nhà nước nào nếu họ thật sự có ý thức tiêu cực, tức có ý muốn tham nhũng, và có điều kiện, vì những lợi ích riêng. Điều đó cũng có nghĩa những cá nhân như thế thì bất chấp pháp luật, bất chấp đạo đức, bất chấp lương tâm xã hội, bất chấp sĩ diện hay mọi giá trị tốt đẹp của bản thân mình, họ chỉ cần có được hoặc chạy theo các lợi lộc vật chất trước mắt, sẳn sang dẫm lên trên xã hội, dẫm lên trên điều chân chính và sự công bằng, cũng như dẫm lên trên mọi quyền lợi chính đáng, tự nhiên của những người khác, trong đó tất nhiên trước hết là những người đồng bào của họ. Đó mới là ý nghĩa chính, còn xảy ra ở đâu, lúc nào, trường hợp ra sao, quy mô và cấp bậc khác nhau cụ thể, chỉ là các yếu tố về không gian, thời gian, các điều kiện và tính chất cụ thể khi sự kiện xảy đến.

Cho nên tham nhũng thật sự cũng chỉ là một thứ bệnh, nhưng đây là bệnh xã hội, mặc dầu chủ yếu nó chỉ có thể xảy ra trong cơ quan nhà nước, cho dù ở cấp bậc nào, kể cả ở cấp thấp nhất là cấp thừa hành hoặc địa phương. Nhưng mọi thứ bệnh dưới gầm trời này, trừ những bệnh nan y khó trị, còn mọi bệnh thông thường, thật ra đều có cách để trị được cả, vấn đề là có biết cách trị, có muốn trị, và việc chẩn đoán, trị liệu có thật sự hiệu quả và đạt đến thành công hay không thôi. Điều này hỏi bất kỳ thầy thuốc chuyên khoa nào về ý học họ đều trả lời được, cũng như hỏi bất kỳ các thầy thuốc về những bệnh xã hội nào, họ cũng đều có thể thấy được hoặc chỉ ra các cách thức được. Có nghĩa liệu pháp chính yếu ở đây là liệu pháp về ý thức con người và liệu pháp về cơ chế xã hội, hay sự vận hành của pháp chế nhà nước, tức liệu pháp về cơ chế, như mọi người vẫn nói, mà không phải gì khác. Liệu pháp ý thức trước hết phải là liệu pháp về sự tự giác và về giáo dục. Còn liệu pháp cơ chế chính là liệu pháp thông thoáng, dân chủ, trọng luật mà không thể trọng gì khác. Rõ ràng cả hai liệu pháp này phải đi cùng với nhau, bởi vì liệu pháp này làm điều kiện, hỗ trợ, tăng cường, mang lại kết quả cho liệu pháp kia cũng như ngược lại. Nói điều này có thể có người cho là cách nói lòng vòng, vô bổ, lý thuyết, nhưng thực tế nó không thể nào có cách khác hơn như vậy, có nghĩa nó chỉ có thể là một giải pháp tổng thể, cần thực hiện đồng bộ, rập ràng, như một sự tổng duyệt mà không thể có cách khác.

Thông thường tâm lý con ông cháu cha, tâm lý đặt người theo dây mơ rễ má, là ý nghĩa phổ biến chung ở con người, hay ít ra cũng là thói quen thường gặp của người Việt Nam nói chung, đây là thói rất xấu, rất tai hại cho xã hội, mà phần lớn nhiều người phớt lờ, không ý thức, hay coi như chuyện nhỏ. Đây là tâm lý công thần, tâm lý tự bảo vệ, tâm lý thủ lợi cá nhân, mà nó có từ đầu ngay khi một nhà nước còn phôi thai, như đưa những người vào chính quyền, đưa con em du học, tự phân phối các quyền lợi cần thiết nào đó cho bản thân, cho phe cánh, cho các đồng đội của mình ưu tiên trước nhất, thay vì chỉ nghĩ đến sự công bằng chung, ích lợi chung, tình người và ý nghĩa về tài năng trong xã hội. Mục đích của sự củng cố thế lực, bảo đảm sự tồn tại và sự thành công, chiến thắng, cho dù mục đích của tất cả mọi điều đó là gì, cũng là sự châm ngòi vô hình chung cho mọi tia lửa nhỏ, mọi mọi vết xe đổ, mọi sự bột phát, cũng như mọi hiện tượng xã hội bất trị về sau này. Ngày xưa, trong các chế độ quân chủ vững mạnh, tính cách thi cử để chọn người, tính cách sàn lọc để dùng người thường tỏ ra có ý thức và nghiêm chỉnh, đó chính là ý nghĩa của những thực tế xã hội tốt đẹp và lành mạnh, ít ra cũng là trong những điều kiện khách quan của chính xã hội đó. Đó là chưa nói đến chính sách đào tạo, giáo dục, luôn luôn là chính sách vì xã hội, tức quốc kế dân sinh là chính, mà không phải vì những mục đích đặc thù chính trị nào cả, thậm chí không phải vì mục đích ý thức hệ như vốn xảy ra ở một số nước trong xã hội hiện đại và trong ý nghĩa hiểu theo từ ngữ hiện đại.

Thế thỉ rõ ràng khi một nền giáo dục mang ý nghĩa giáo dục giả tạo hoặc phiến diện, sẽ dẫn đến kết quả là đào tạo ra những con người giả tạo, phiến diện là điều tất yếu, tự nhiên, không thể nào tránh khỏi. Tất nhiên đây là nói chung, là tính khái quát hóa, mặc dầu trong thực tế có khi không tuyệt đối hoặc hoàn toàn như vậy, nhưng dù sao đó cũng là điều cơ bản. Bởi vì, đôi khi mỗi cá nhân còn có cá tính, còn truyền thông, nền nếp, giáo dục gia đình phụ trợ vào, do sự tự ý thức của bản thân, nên không phải hoàn toàn chịu khuôn đúc của xã hội, nhưng cơ bản ý nghĩa giáo dục của xã hội là không thể tránh khỏi. Nói thẳng thừng ra, khi giáo dục ý thức hệ được coi là căn bản, nhưng nếu ý thức hệ đó là không thực tế, không hội đủ bản chất khoa học, hay chỉ mang tính cách giả tạo, tất nhiên toàn bộ guồng máy đào tạo đó về mọi phương diện cũng đều thành giả tạo, và ý nghĩa đầu ra của nó, tức những con người cụ thể đào tạo ra, phần lớn cũng chỉ là giả tạo. Ý nghĩa hay giá trị sống của mỗi con người phần lớn là tự tin vào bản thân mình, tin vào người khác, tin vào xã hội, tức tin vào những ý nghĩa, những giá trị, những điều đúng khách quan, điều đó tạo cho họ có nền nếp, có quy củ, có mục đích đúng đắn và giá trị thực sự trong đời sống về mọi mặt, mọi phương diện, nhưng ngược lại, nếu ý nghĩa thật sự không phải là như thế, tất nhiên mọi kết quả sẽ là ngược lại. Điều này có nghĩa giáo dục, truyền đạt hay đào tạo phải luôn thật sự đi vào chiều sâu, vào sự tự ý thức, sự tự chủ và độc lập, nếu nó chỉ dừng lại thuần túy như là công cụ tạo nên các phương tiện bề ngoài và nông cạn, tất nhiên thức tế là sai lầm và phản hiệu dụng.

Đó là ý nghĩa của việc con người tạo thành cơ chế, và cơ chế tạo ra con người, là một vấn đề hết sức nghiêm trọng của một xã hội mà rất ít người quan tâm hay nhận thức ra được. Do đó, mọi điều gì đều có khởi điểm, và mọi sự khởi đầu nan chính là như thế. Bởi lịch sử trong thực tế là một dòng tồn tục, quá khứ, hiện tại, tương lai thật sự không tách rời nhau, nên mọi cái gì trong hiện tại vốn bắt nguồn từ quá khứ, và là điều kiện của tương lai, là điều hoàn toàn chắc chắn. Bởi thế, muốn giải quyết mọi vấn đề gì, trước hết luôn phải cần nghiêm túc, khách quan nhận chân chính ý nghĩa của vấn đề, có như thế mới tìm được lối ra, tìm được giải pháp, nếu không cũng chỉ giống như con thằn lằn tự cắn đuôi, như con giun tự khoanh tròn lại, chẳng bao giờ tiến tới đâu hay mang lại được những kết quả gì thật sự lớn lao hoặc kết quả cả. Chẳng hạn, ý nghĩa yêu con người, yêu xã hội, yêu đạo đức, kể cả yêu nước vẫn luôn là sự tự ý thức, sự lắng đọng về chiều sâu, là thứ tình cảm được trải nghiệm tự nhiên, không thể chỉ là những công thức bề ngoài hời hợt, giả tạo, thậm chí giả dối, cứng nhắc, vô bổ, thì thật sự chẳng làm nên những con người có ý nghĩa hay có giá trị đích thực nào hết. Đó là kiểu yêu đồng bào, yêu nước theo các công thức chính trị, theo các khẩu hiệu ngắn ngày, theo các mùa vụ luôn luôn biến chuyển theo thời vụ hay theo năm tháng, đó là điều mà toàn thể xã hội hay tất cả mọi người ngày nay đều thấy rất rõ. Thậm chí có người còn nham nhở nói yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội, một cách nói trơ tráo theo kiểu vô ý thức, vô trách nhiệm đối với dân tộc, đất nước, và vô giá trị, bởi nếu thế trước khi có chủ nghĩa xã hội thì người ta không yêu nước, hay ở những nơi không có chủ nghĩa xã hội chắc mọi người đều không yêu nước. Cho nên mọi sự áp đặt giả tạo đều không thể tạo nên những con người thật, mà xã hội ít có những con người thật thì xã hội có nhiều tiêu cực và nhiều tham nhũng là điều chắc chắn.

Nói khác đi, cái hướng dẫn con người quan trọng nhất chính là các tình cảm trong sáng, vô tư, chân thật. Ngoài điều đó ra là ý thức tự chủ, độc lập, là lương tâm và trách nhiệm. Cuối cùng là tình yêu đồng loại, yêu con người, yêu xã hội, và nói cụ thể là lòng yêu nước chân thật nhất, mà điều đó thật sự không gì khác hơn là muốn xã hội phát triển, muốn đất nước đi lên, muốn mọi người hạnh phúc, tất nhiên cũng sẽ hạn chế rất nhiều tham nhũng, hoặc ít nhất cũng rất khó, hay rất ít điều kiện cho tham nhũng tồn tại và phát triển. Bởi vì tại sao ? Vì khi anh đi làm nhiệm vụ công quyền, một thì đó là một nghề nghiệp chân chính, hai thì đó là nghĩa vụ, trách nhiệm đối với xã hội, đối với mọi người. Anh đã được nuôi ăn, lãnh lương, anh phải có trách nhiệm đối với mọi người, với xã hội, tại sao anh lại tham nhũng ? Bởi tham nhũng là gì, một là anh bòn rút, ăn cắp của công, là điều hoàn toàn phi đạo đức và không chính đáng. Hai là anh lợi dụng chức quyền để sách nhiễu dân, làm phiền hà để móc túi tiền của dân, tức cũng là một hành động ăn cướp công khai giữa ban ngày ban mặt, hành động hại xã hội và hại người khác mà chính anh bất chấp hay trơ trẽn dây vào. Ba là anh lợi dụng quyền hành, thế lực để tùy tiện phân phối những quyền lợi chung nào đó cho các cá nhân riêng một cách không hợp pháp, không chính đáng để nhằm thủ lợi. Và đây chính là hình thức tham nhũng trầm trọng nhất, tệ hại nhất, nguy hiểm nhất mà mọi người đều rõ. Bởi vì nó chính là sự lũng đoạn nhà nước, lũng đoạn xã hội, lũng đoạn pháp luật, vì nó tạo nên những sự bất công ghê gớm nhất trong xã hội, nó làm đảo lộn mọi trật tự kinh tế tự nhiên, lành mạnh trong xã hội, tạo nên nền kinh tế què quặt, ốm yếu, tạo nên những sự phung phí và xa xí, tạo nên mọi sự giàu nghèo chênh lệch một cách quá đáng, phi pháp, đồng thời kéo theo tất cả mọi hậu quả, hệ lụy khôn lường khác mà tất cả mọi người hay toàn thể xã hội đều phải gánh chịu.

Như thế có nghĩa tham nhũng luôn đi đối với quyền hành và cơ chế, nếu quyền hành và cơ chế đó là không lãnh mạnh. Quyền hành không lành mạnh là khi quyền hành được sử dụng phi pháp, sai trái bởi các đầu óc không lành mạnh, tức các ý thức tiêu cực, sự kém hiểu biết, kém năng lực, trình độ văn hóa thấp, không nhận thức được hết mọi ý nghĩa nhân văn, ý nghĩa đạo đức, và ý nghĩa xã hội. Do vậy, mọi cá nhân tham nhũng thực chất đều là những kẻ bất xứng, những kẻ tồi bại, tệ hại nhất về mặt xã hội. Tất nhiên, những kẻ như thế thì nhất thiết không thể đảm đương được những chức vụ, nhất là những chức vụ cao hay quan trọng trong guồng máy công quyền, nên điều đó nếu nó thật sự vẫn xảy ra, là do lỗi của cơ chế, của pháp luật. Thực tế, nhiều người vẫn hiểu cơ chế và pháp luật như hai điều khác nhau, có khi không ăn nhập với nhau, nhưng thực chất cả hai chỉ là một. Bởi cơ chế đây là cơ chế điều hành chung, tức bản thân nó đã là pháp luật, đã tham dự vào hay là thành phần của pháp luật. Thế nhưng pháp luật là gì, pháp luật lại do những người nắm quyền quyết định trong chính cơ chế đó tạo nên, nên có nghĩa pháp luật không thể lành mạnh nếu cơ chế không lành mạnh hoặc ngược lại. Bởi vậy, cũng có thể nói chỉ có cơ chế dân chủ, tự do thật sự mới là cơ chế lành mạnh trong xã hội, bởi vì nó do chính người dân, hay toàn dân kiểm soát. Ngược lại, mọi cơ chế không lành mạnh trong xã hội chính là những cơ chế độc đoán, độc tài nào đó, bởi vì nó chỉ do cá nhân, một số các cá nhân, hay những tập hợp hoặc thành phần nào đó của xã hội kiểm soát mà không phải là toàn dân.

Tất nhiên không có cơ chế nào là tuyệt đối lý tưởng hoặc hoàn chỉnh trong xã hội. Nhưng điều đáng nói ở đây chính là ý nghĩa nguyên lý hay nguyên tắc mà không phải chỉ là ý nghĩa thực tế. Một thực tế nào đó có thể tốt theo cách nhất thời, tạm bợ, không bền vững, không cơ bản, nhưng nếu nguyên lý là khách quan đúng, thì chắc chắn bao giờ cũng phải tốt đẹp, phải đúng, cho dung trong thực tế đôi khi có thể xảy ra những điều lệch lạc nhất thời, đặc thù nào đó. Ngay như nguyên tắc chọn người cũng vậy, sử dụng nguyên tắc đúng, vẫn có thể chọn người sai, đó là trách nhiệm hay ý nghĩa bản thân của chính cá nhân đó, còn nguyên tắc chọn người đúng, công bằng, khách quan, khoa học, chỉ luôn luôn vì công ích, thì bao giờ nguyên tắc này cũng hiệu quả, cũng tốt đẹp về chính mặt bản thân của nó. Đã từ lâu, trong một vài xã hội nào đó, người ta có nguyên tắc chọn người hồng hơn chuyên. Đó thật sự là sự nhầm lẫn hay có thể nói là tính chất tệ hại về mặt xã hội. Bởi vì thực tế xã hội tự nó là không có màu sắc, vì bất cứ màu nào cũng đều chỉ là chủ quan, thế mà anh muốn áp đặt màu hồng lên toàn xã hội, thực chất chính anh là chủ quan, cho dầu anh tự mệnh danh là chân lý khách quan, duy nhất, tuyệt đối đúng, hoặc lý tưởng gì gì đó chăng nữa, thì thực tế xã hội và lịch sử ngày này cho thấy nó hoàn toàn không đúng. Cho nên tính cách chuyên là ý nghĩa muôn đời của xã hội, bất kỳ xã hội nào, quốc gia nào, đất nước nào, thời đại nào cũng vậy. Chuyên tức là có trình độ, có nhận thức, có chuyên môn, có ý thức, có khả năng để phục vụ trong các ngành nghề, trong quản lý, trong bộ máy công quyền hay hành chánh của quốc gia, thì nó mới thật sự bổ ích và hiệu quả. Chuyên như vậy cần phải được đào tạo thuần túy thật chuyên, đó là tính chất công bằng, khách quan, mà mọi người đều phải có cơ hội tham dự. Đằng này chỉ đào tạo theo hồng, hoặc theo màu sắc nào đó, thì thật sự là bất công, là chủ quan, làm bế tắt mọi cơ hội thăng tiến và bình đẳng của tất cả mọi người, là coi thường xã hội, là phản xã hội, sẽ dẫn đến mọi sự nghịch lý, mọi giả tạo, kể cả những tính chất tiêu cực hay mọi hình thức quyền thần, con ông cháu cha nào đó.

Vậy nên, tham nhũng không phải là không có cách trị, nhưng thực chất trong ý thức có muốn trị hay không hoặc chỉ muốn sống chung với nó, có phương pháp trị hiệu quả hay không, có quyết chí đến cùng trị hay không, lại là chuyện khác. Thực chất, chỉ có những người nào tự trong ý thức hoàn toàn lành mạnh, không hề có chút tà ý tham nhũng nào mới có thể có khả năng hay mục đích trị tham nhũng. Tất nhiên họ phải cần có sức mạnh của ý thức, của ý chí riêng, cũng như cần phải có sức hậu thuẫn của xã hội. Không có những thứ đó, họ cũng chỉ hoàn toàn vô phương. Còn những kẻ có ý thức tham nhũng, có mục đích tham nhũng, hay thiếu ý chí hoặc lý tưởng trị tham nhũng mà lại hô hào trị tham nhũng thật ra đều là những kẻ giả dối, kiểu vừa ăn cướp vừa la làng, chỉ làm thật giả khó phân, làm nhiễu thêm xã hội mà không ích lợi gì. Cho nên, dân thấp cổ bé miệng thì lấy gì trị tham nhũng, chẳng qua chỉ có thể nuôi tham nhũng hay sống chung với tham nhũng. Còn những cán bộ cấp trung, cũng lấy gì mà trị tham nhũng, bởi vì chính họ cũng chỉ là sản phẩm hoặc phải chịu mọi sự khống chế của cấp cao hơn. Vậy trị tham nhũng với kết quả thật lòng chỉ có thể là những người, những tầng lớp cầm quyền cao nhất của một xã hội, một đất nước, một nhà nước, mà không thể ai vào đó khác. Tất nhiên, ngay cả họ muốn làm được việc, với quyết tâm thật sự, cũng phải dựa vào sự hẫu thuẫn, hỗ trợ nào đó, mà không thể nào đơn thương độc mã. Sức mạnh đó không gì ngoài năng quyền của báo chí và năng quyền dư luận cũng như sự kiểm tra, giám sát của toàn dân, nếu chúng được đích thực tôn trọng và được vận dụng đến. Bởi trị tham nhũng phải trị công khai, trị lén lút, âm thầm, kiểu xử lý nội bộ, thì không thể gọi là trị được. Có nghĩa trị tham nhũng giống như một lực lượng mafia hùng mạnh, có vòi bạch tuột cắm vào ở khắp nơi, cứ cho là như thế, hay giả định như vậy, cần phải có cả sách lược của quốc gia, có các giải pháp khoa học, hữu hiệu thực tế, mà không phải chỉ nói suông hoặc lý thuyết suông theo cách cảm tính, như kiểu vấn kế hay “dâng” kế sách của mọi người trong bàng dân thiên hạ được.

Nói tóm lại, trị tham nhũng, lành mạnh hóa xã hội, chính là điều kiện nhất thiết và cơ bản nhất để đưa đất nước, quốc gia tiến lên và phát triển. Bởi vì tham nhũng cũng giống như một đống bùn, trong đống bùn thì xe chỉ có thể mắc lầy, sa lún, chậm chạp, mà không thể nào tiến lên hay chạy nhanh cho được. Như vậy, chống tham nhũng cũng có nghĩa là yêu nước thật sự. Nhưng thế nào là yêu nước thật sự và yêu nước giả đò lại là chuyện khác(1). Bởi vì điều này thì chính mỗi người liên quan trong thâm tâm tự biết, nhiều lắm là những người có quan hệ trực tiếp về những mặt nào đó, hoặc có đủ mọi thông tin khách quan mới có thể biết, còn mọi người khác cũng hoàn toàn đành chịu. Do đó, yêu nước, yêu xã hội, yêu con người hay không chẳng qua chỉ là cái tâm của mỗi người, không thể chỉ là những lời nói suông, những khẩu hiệu rỗng tuếch, giả tạo, hay chỉ là những hình thức thể hiện thiếu trung thực, bề ngoài. Có nghĩa sự tự chuyển hướng của mỗi người cũng là sự chuyển hướng chung của cơ chế, của pháp luật, của xã hội. Đó trước hết là sự tự ý thức, tự giác, sự liên kết lành mạnh của tất cả mọi người. Bởi vì pháp luật lành mạnh không gì khác hơn do mọi công dân đích thật thật sự tạo nên, xã hội lành mạnh không gì hơn là mọi con người lành mạnh hay đa phần những con người lành mạnh tạo nên, đó chính là những công dân đích thực, cho dù họ ở địa vị, hoàn cảnh thế nào, là những người yêu nước, yêu xã hội thực sự, mà không phải chỉ là những ngôn ngữ bề ngoài, cộng thêm phải là một cơ chế nhà nước, cơ chế xã hội mang tính dân chủ đúng nghĩa, khách quan, và tất nhiên là hiệu quả thật sự.

 

Võ Hưng Thanh
Đà Lạt, một sáng sớm mùa Xuân Tân Mão
(21/02/2011)





(1) Xem them cùng tác già :
Thế nào là một nền chính trị toàn dân (19/02/2011)

 

Copyright © 2009 ---.
All Rights Reserved.